domain, domain name, premium domain name for sales

Thursday, June 11, 2015

Giới thiệu về báo cáo tài chính của các ngân hàng

      Những bản báo cáo tài chính của các ngân hàng tuân theo những nguyên tắc ca bản giếng như với doanh nghiệp, nhưng có những sự khác biệt lớn. Cả tài sản và nợ của ngân hàng là những hợp đổng tài chính, vốn của ngân hàng nhỏ hơn nhiều so với kích thước của bảng cân đối kế toán so sánh với những công ty phi tài chính. Những cam kết không có trong bảng cân đốicũng có lớn tương đương với bảng cân đối. Chúng tôi tổng quát câu trúc bảng cân đốivà báo cáo thu nhập trong phần đầu tiên.

     Chương này nói về những tiêu chuẩn kế toán mới, hay Các Tiêu Chuẩn Báo Gáo Tài Chính Quốc Tế (IFRS). Chúng có tầm quan trọng đặc biệt với các tổ chức tài chính vì với kế toán ‘giá trị công bằng’, chúng ảnh hưởng tói sự tăng giá hay sụt giá của danh mục đầu tư ngân hàng. Điều này làm thay đổi cơ sở vốn hoặc kết quả kinh doanh sau thuế trong báo cáo lợi nhuận và thua lỗ. Những quy định đánh giá có ảnh hưởng trực tiếp lên khả năng thanh toán của ngân hàng.

Báo Gáo Tài Chính Quốc Tế


      Phần trình bày về IFRS dựa trên báo cáo thường niên của các ngân hàng và đánh giá của các cố vấn về những nguyên tắc cơ bản. Bài tổng quát này về tiêu chuẩn kế toán mới bao gồm bốn phần: sự công nhận tài sản và nợ tài chính, các quy tắc đánh giá; những quy định sự suy yếu cho tài sản, và kế toán phòng hộ. Phần cuốiso sánh cách phân loại những quy định rủi ro và xử lý kế toán.

Các báo cáo tài chính ngân hàng

     Báo cáo tài chính ngân hàng rất khác với báo cáo tài chính doanh nghiệp tuy nguyên tắc giống nhau. Sự khác biệt liên quan tới bản chất tài sản và nợ và một số đặc điểm khác. Vốncủa ngân hàng khá nhỏ so với doanh nghiệp bởi vì các ngân hàng cóthể huy động vốn cho những hoạt động hiện thời mà không cần đi qua quy trình dài dòng cho những đơn vị phi tài chính. Những giao dịch có trong bảng cân đốikế toán bao gồm tất cả những giao dịch tạo ra dòng tiền ra cho tài sản và dòng tiền vào cho nợ.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/04/tinh-thanh-khoan-la-gi-quan-ly-tinh-thanh-khoan.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:tài sản tài chính, thanh khoản

Lợi ích của Bảng cân đối kế toán

      Bảng cân đối kế toán đưa một cái nhìn tức thời về những tài sản và nợ vào một ngày nhất định. Báo cáo thu nhập tóm tắt tất cả những doanh thu và chi phí đè xác định thu nhập của một giai đoạn. Theo cách nhìn đơn giản hóa, bảng cân đội bao gồm bốn cấp độ cơ bản, cộng với những khoản không có trong bảng cân đối, chia bảng cân đối theo chiều ngang (bảng 21.1):

- Các giao dịch ngân khố và ngân hàng
– Môi giới (cho vay và thu thập tiền ký gửi)
– Tài sản tài chính (danh mục đầu tư giao dịch) những tài sản và khoản nợ dài hạn: tài sản cố định, đầu tư vào công ty con, cổ phần và nợ dài hạn. 

      Trọng số của những thành phần chính tùy vào tổ chức, phụ thuộc vào kinh doanh chủ chốt của họ. Cổ phần thường thấp trong các bảng cân đốingân hàng. Cho vay và tiền ký gửi là khoản lớn trong ngân hàng thương mại và bán lẻ. Ngân hàng đầu tư, bao gồm cả tài chính chuyên dụng và giao dịch, thường cấp vốn cho các hoạt động thị trường. Ở các ngân hàng châu Âu, ngân hàng toàn diện cho phép các tổ chức ngân hàng hoạt động trong tất cả các nghiệp vụ, tương phản với sự phân chia giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại ở Mỹ.

ngân khố


       Đối với các ngân hàng, các khoản không có trong bảng cân đổi là lượng lớn những giao dịch khác thường được gọi là dự phòng. Chúng không gây ra dòng tiền ra hay dòng tiền vào, trừ chi phí và doanh thu liên quan tới những giao dịch đó được ghi chép trong béo cáo thu nhập. Với các giao dịch ngân hàng, dự phòng bao gồm những đảm bảo cho (thách hàng và bên thứ ba, hạn mức tín dụng cam kết chưa được khách hàng sử dụng hết và hạn mức tín dụng dự phòng. Đây là những cam kết hợp đổng, tùy khách hàng Có sử dụng hay không. Dự phòng bao gồm các đảm bảo, là cam kết nghĩa vụ của người mang nợ khi người đó vỡ nợ. Một ngân hàng có thể nhận và đưa ra những đảm bảo.

     “Dự phòng cho đi” tạo ra doanh thu. Đấy là những khoản phí tức thi hoặc định kỳ hay doanh thu tiền lời và chi phí tính bằng tỷ lệ của những số dư. Dòng tiền ra phụ thuộc vào điều gi xảy ra với bên đổi tác. Ví dụ, nêu người đi vay sử dụng hạn mức tín dụng, sẽ có thu nhập tiền bổ sung vào doanh thu.




Từ khóa tìm kiếm nhiều:phương pháp định giá, thanh khoan

Phái sinh và sự công nhận ban đầu của các tài sản và nợ tài chính

      Phái sinh là những giao dịch không có trong bảng cân đối, bao gồm: hợp đồng hoán đổi, hợp đồng tương lai, hợp đồng tỷ giá và quyền chọn. Giống như những dự phòng khác, chúng là nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.Với quyền chọn, điều này tùy vào một sự kiện cụ thể có xảy ra hay không.

     Với danh mục đầu tư ngân hàng, những phép đo thu nhập theo kế toán truyền thống là những phần dư đóng góp tính ở những cấp độ khác nhau vào báocáo tài chính. Những phép đo này đi từ “thu nhập lãi thực” (NII), hiệu giữa doanh thu lãi và chi phí lãi, đến thu nhập thực. Doanh thu tổng tích lũy NII với tất cả những lệ phí của giai đoạn. Biên tiền lãi của ngân hàng thương mại thường dùng làm mục tiêu chính cho những chính sách quản lý rủi ro lãi suất vì chúng hoàn toàn do lãi suất chi phối. Các ngân hàng thường tăng tỷ lệ doanh thu là phí để làm cho thu nhập thực ít nhạy với lãi suất hơn.

       Dự phòng cho những thua lỗ nợ nên là chỉ báo của rủi ro tín dụng hiện tại của những khoản nợ ngân hàng. Tuy nhiên, dự phòng phải tuân theo kế toán và các quy định tài chính, và khác với dự phòng kinh tế. Một khi những thua lỗ có khả năng xảy ra cao, những quy định suy giảm dựa theo tiêu chuẩn kế toán mới dựa trên mô hình “thua lỗ phải chịu”.

nợ tài chính


Sự công nhận ban đu của các tài sản và nợ tài chính

    Theo các quy định kế toán tài chính, một tài sản tài chính là bất kỳ hợp đồng nào với quyền lợi nhận tiền mặt hoặc một tài sản tài chính khác, quyền lợi quy đổi một công cụ tài chính thành một công cụ tài chính khác hoặc một công cụ cổ phần. Một công cụ là một nghĩa vụ nợ khi người phát hành có thể được yêu cầu phải chuyển giao tiền mặt và tài sản tài chính cho người nắm giữ. Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt nghĩa vụ nợ với cổ phần. Một công cụ được phân loại là cổ phần khi nó đại diện một khoản tiền lời còn dư trong tài sản thực của người phát hành và không có kỳ hạn.

      Tài sản tài chính ban đầu được đo lường ở giá trị công bằng. Có bốn hạng mục tài sản tài chính được định nghĩa tùy theo mục đích quản lý của ngân hàng.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/loi-ich-cua-bang-can-oi-ke-toan.html


Tài sản tài chính và nghĩa vụ nợ

     Tuy nhiên, những quy tắc đánh giá và thay đổi giá trị phụ thuộc vào những cách xử lý khác nhau. Những thay đổi giá trị có thể được bao gồm trong khoản lợi nhuận và thua lỗ (P&L) của báo cáo thu nhập hoặc trong cổ phần của ngân hàng. Tất cả các tài sản cũng phụ thuộc vào các “quy tắc suy giảm” làm thay đổi giá trị của chúng. Đánh giá, thay đổi giá trị và suy giảm được trình bày ở sau.

      Các nghĩa vụ nợ tài chính hoặc ở giá trị công bằng hoặc là những nghĩa vụ nợ tài chính khác. Nghĩa vụ nợ nắm giữ với mục đích giao dịch bao gồm nghĩa vụ nợ phái sinh mà không dùng với mục đích phòng hộ, nghĩa vụ trao trả cổ phiếu hoặc tài sản khác do bên thứ ba mượn, những khoản nợ tài chính với mục đích mua lại tròng ngắn hạn hoặc là một phần của danh mục đầu tư với mục tiêu tạo lợi nhuận ngắn hạn.

       Chú ý là nghĩa vụ nợ, ngoài mục đích giao dịch, còn được công nhận với “chi phí khấu hao” và những thay đổi trong giá trị công bằng không được ghi chép lại, trừ trường hợp suy giảm. Theo đó gây vốn bằng nợ của ngân hàng không phải là một phần của những nghĩa vụ nợ đó.

Tài sản tài chính


      Sự phân loại ban đầu hầu như không hủy bỏ được. Việc tái phân loại tài sản chỉ được chấp nhận trong những trường hợp ngoại lệ. Nói cách khác, sự công nhận ban đầu là vĩnh viễn và ứng với tất cả các ngày trong bảng cân đối. Tái phân loại có thể xảy ra khi có sự nghi hoặc về mục đích quản lý của một danh mục đầu tư. Trong trường hợp đó, danh mục đầu tư đã bị “hư hỏng”.

       Những cách xử lý đặc biệt áp dụng với những cổ phiếu lai ví dụ như ‘nợ có thể quy đổi’. Trong những trường hợp đó, có một phái sinh ẩn trong công cụ hay “hợp đồng chủ”. Những phái sinh độc lập không dùng để phòng hộ được phân loại là đề giao dịch. Các phái sinh ẩn tuân theo phân loại của hợp đồng chủ, trừ khi nó không liên quan chặt chẽ với hợp đồng chủ.

       Tài sản tài chính và nghĩa vụ nợ ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ.Một tài sản tài chính được nắm giữ để giao dịch nếu được dùng với mục đích tạo ra lợi nhuận từ những dao động giá ngắn hạn hoặc nếu là một phần của danh mục đầu tư của nhiều công cụ với mục tiêu tạo lợi nhuận ngắn hạn. Trừ khi dùng để phòng hộ, phái sinh được phân loại là “nắm giữ để giao dịch”. Quy ước này không thể hủy bỏ. Một tài sản không thể chuyển sang trong một hạng mục khác.

      Cổ phiếu ở hạng mục này được tính ở giá tri công bằng vào ngày trên bảng cân đối. Những thay đối trong giá trị công bằng (trừ tích lũy từ cổ phiếu thu nhập cố định) được trình bày trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ dưới tiêu đề “lợi nhuận/ thua lỗ thực từ công cụ tài chính ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận hoặc thua lỗ” cùng với cổ tức từ những cổ phiếu nhiều thu nhập. Điều này có nghĩa là sự thay đổi giá trị có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận và thua lô của ngân hàng.


Đọc thêm tại:


Các khoản nợ và khoản phải thu

Các khoản nợ và khoản phải thu

     Các khoản nợ và khoản phải thu là những tài sản tài chính phi phái sinh với các khoản thanh toán cố định hoặc định trước mà không đặt giá trên thị trường niêm yết. Các khoản nợ và khoản phải thu bao gồm tài sản nợ, các khoản thu giao dịch và những đầu tư nợ khác. Chúng hình thành khi một tài chính cung cấp tiền cho người đi vay và không có ý định giao địch khoản phải thu. Thu nhập từ cổ phiếu tài sản cố định được phân loại trong hạng mục này nằm dưới hạng mục “thu nhập tiền lãi” trong tài khoản thu nhập và thua lỗ.

khoản phải thu


Tài sản tài chính nắm giữ tới ngày đáo hạn

     Những khoản đầu tư nắm giữ tới ngày đáo hạn là những tài sản tài chính với tiền thanh toán và ngày đáo hạn cố định (ví dụ, cổ phiếu nợ và cố phiếu ưu tiên có thể chuộc lại) mà một tổ chức có khả năng và ý định nắm giữ tới ngày đáo hạn. Hạng mục này không bao gồm các khoản nợ và khoản phải thu. Cổ phần không thể phân loại là “nắm giữ tới đáo hạn” vì chúng không có ngày đáo hạn cố định. Khả năng và ý định không chỉ được đánh giá khi tài sản được mua mà còn vào những ngày sau đó trên bảng cân đối. Một ý định chắc chắn nắm giữ tài sản tới đáo hạn mạnh hơn nhiều so với chi không có ý định bán ờ hiện tại.

      Tài sản nắm giữ dưới hạng mục này chịu những giới hạn nghiêm trọng, Các quy định áp đặt việc bán những tài sản như vậy sệ dẫn tới việc tái phân loại toàn bộ danh mục đầu tư thành tài sản “có sẵn để bán”. Nếu một tố chức bán một lượng tương đối cổ phiếu nắm giữ tới đáo hạn, trừ trong những trường hợp ngoại lệ, điều này gây ra nghi ngại về khả năng và ý định nắm giữ tới đáo hạn của họ. Tất cả các khoản đầu tư “giữ tới đáo hạn” được phân loại thành “có sẵn để bán” và tính ở giá trị công bằng. Có khả năng quay lại hạng mục này Sau một thời gian.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/tai-san-tai-chinh-va-nghia-vu-no.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:bao cao tai chinh ngan hang, thanh khoản

Monday, May 18, 2015

Kỷ yếu diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2015

Gửi các bạn quan tâm tài liệu Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân năm 2015:

Tài liệu là tập hợp các bài viết, đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và chính sách công có uy tín tại Việt Nam. Link tải về: Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2015





Mục lục



PHẦN 1

ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KT-XH NĂM 2014 VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NĂM 2015

KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2014: TỔNG QUAN VĨ MÔ

PGS.TS. Trần Đình Thiên và các cộng sự - Viện Kinh tế Việt Nam


TÌNH HÌNH KINH TẾ QUÍ I/ 2015 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN XỬ LÝ CHO 9 THÁNG CÒN LẠI

TS. Lê Đình Ân - Nguyên Giám Đốc Trung tâm thông tin và dự báo KT-XH Quốc gia

KINH TẾ VĨ MÔ 2014: ỔN ĐỊNH VỀ LƯỢNG, TRÌ TRỆ VỀ CHẤT, CHƯA RÕ TƯƠNG LAI
TS. Lê Việt Đức

KINH TẾ VIỆT NAM: GIẢI PHÁP “VƯỢT ĐÁY” VÀ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG
PGS.TS Nguyễn Chí Hải - Trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐHQG TP.HCM)

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 2014
TS. Trần Văn, Phó Chủ nhiệm - Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NĂM 2014 VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO NĂM 2015
TS. Hà Huy Tuấn - Phó Chủ tịch UBGSTC Quốc gia

CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN, KẾT QUẢ, VẤN ĐỀ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
TS.Trần Tiến Cường

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 2011-2015: ĐIỀU CHỈNH ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH
TS. Vũ Như Thăng - Viện trưởng, Viện CL&CSTC

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

TS. Nguyễn Lâm Thành
TS. Nguyễn Anh Phong

THẤT NGHIỆP VÀ VIỆC LÀM – THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC
TS. Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội

VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP VÀ VIỆC LÀM:  HIỆN TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG
PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương - Viện Khoa học lao động và xã hội


PHẦN 2

CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH: BIẾN LỜI NÓI THÀNH HÀNH ĐỘNG


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU “ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ THÁO BỎ NÚT THẮT THỂ CHẾ ĐỂ  CHUYỂN MẠNH NỀN KINH TẾ NƯỚC TA SANG KINH TẾ  THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ, HIỆN ĐẠI ”
TS. Nguyễn Đình Cung

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAM NHŨNG VÀ CHI PHÍ PHI CHÍNH THỨC
TS. Lê Đăng Doanh

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH VÀ TÀI CHÍNH CÔNG
TS.Trần Du Lịch

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH TẾ, GÓP PHẦN XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA
PGS.TS. Dương Đăng Huệ - Vụ trưởng Vụ Pháp luật Kinh tế - Dân sự, Bộ Tư pháp

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
PGS TS Bùi Tất Thắng - Viện Chiến lược phát triển

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH VIỆT NAM QUA GÓC NHÌN CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC CUỘC ĐIỀU TRA CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
Đậu Anh Tuấn - Trưởng Ban Pháp chế, Giám đốc Dự án Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

TIẾP TỤC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH - GÓC NHÌN TỪ KHU VỰC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM –
TS Phạm Ngọc Long - Ủy viên BCH Hiệp Hội DNNVV Việt Nam; Viện trưởng Viện Khoa học Quản trị DNNVV;

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TIẾP CẬN NGUỒN LỰC VÀ THỊ TRƯỜNG
TS. Lê Hồng Nhật - Trường Kinh Tế - Luật, ĐHQG HCM
PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng - Trường Kinh Tế - Luật, ĐHQG HCM

CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH: GIẢI PHÁP CỤ THỂ, QUYẾT LIỆT TRONG KHÂU THỰC HIỆN
PGS.TS. Ngô Trí Long

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG & KHUYẾN NGHỊ
TS. Phạm Huy Hùng - Ủy viên Ủy ban kinh tế

NHẬN DIỆN NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ BẤT CẬP TRONG CẢI CÁCH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM
TS.Nguyễn Minh Phong - Báo Nhân Dân
Nguyễn Trần Minh Trí - Viện Kinh tế &chính trị thế giới

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÔNG NHẰM CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ DOANH TẠI VIỆT NAM
PGS. TS Nguyễn Văn Trình - Giám đốc Học viện Cán bộ TP.HCM

THỰC HIỆN CUỘC CÁCH MẠNG KHỞI NGHIỆP KINH DOANH TẠI VIỆT NAM, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN 2 TRIỆU DOANH NGHIỆP KINH DOANH CÓ HIỆU QUẢ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025
CEO.Đặng Đức Thành - Chủ nhiệm Câu lạc bộ các Nhà Kinh tế (VEC); Ủy viên Ban chấp hành phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ QUY TRÌNH LẬP QUY TẠI VIỆT NAM
Phan Vinh Quang

CHẤT KỸ TRỊ TRONG QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC VỚI MỤC TIÊU CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Vũ Hoài Bắc - Chủ tịch Công ty tư vấn GHC

ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CHÂU ÂU
Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam

ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NHẬT BẢN ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM
Atsusuke KAWADA - Trưởng đại diện văn phòng JETRO Hà Nội; Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam

Monday, April 20, 2015

Tính thanh khoản là gì? quản lý thanh khoản

       Tính thanh khoản là gì là thuật ngữ kinh doanh để mô tả khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán hàng hóa nào đó trên thị trường mà không bị ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả.

        Rủi ro thanh khoản tồn tại khi có thâm hụt. Quản lý đòi hỏi phân bố khoản vốn cần thiết trong khoảng thời gian, và tránh những nhu cầu huy động vốn quan trọng không đoán trước. Thường thì, những giới hạn được đặt ra cho khe hở thanh khoản để đảm bảo huy động vốn vẫn nằm trong giới hạn chấp nhận được.


Tính thanh khoản là gì? quản lý thanh khoản

Tính thanh khoản là gì? quản lý thanh khoản



      Quản lý tính thanh khoản hướng tới một khe hở mục tiêu sau khi đã huy động thêm vốn, để tuân theo những giới hạn khe hở thanh khoản. Những giới hạn đó tùy vào lượng vốn có thể huy động định kỳ không gây ra vấn đề.




      Tính thanh khoản tối thiểu phải huy động là khoản sẽ xóa bỏ khe hở vào thời điểm i+1 và tất cả những thời điểm tương lai cho tới hết khoảng thời gian quản lý. Quản lý chủ động của ngân quỹ thường từ 1 tới 2 năm. Ngoài khoảng thơi gian đó, ngân hàng nên theo dõi khe hở để đảm bảo khe hở không vượt cao quá giới hạn.


       Ở đây, ta chỉ tập trung vào ngắn hạn. Tiền mặt huy động hôm nay để bù cho khe hở hiện tại có thể được huy động bằng nhiều cách, tùy vào cấu trúc kỳ hạn của nợ. Quyết định cấp vốn sẽ làm thay đổi hoàn toàn khấu hao nợ.


       Dưới đây là hai ví dụ hồ sơ tài sản và nợ với thâm hụt ban đầu. Trong cả hai trường hợp, nguồn tiền mặt sụt giá nhanh hơn tài sản và thâm hụt được duy trì trong một khoảng thời gian ngắn.


       Chúng ta giả định là ALM muốn tăng nguồn tiền mặt bằng với tài sản bởi vì kỳ vọng về lãi suất đã thay đổi hoặc để giảm những yêu cầu tính thanh khoản trong tương lai. Vấn đề là phải xác định cấu trúc của những nợ mới thống nhất với mục tiêu mới. Nguồn tiền mặt mục tiêu nên bằng tài sản.


      Quá trình bắt đầu từ điểm cuối khoảng thời gian và đòi hỏi việc đi ngược lại để tìm ra cần những khoản nợ nào. Người thủ quỹ sau đó “xếp lớp các khoản nợ bắt đầu từ ngày cuối cùng để tăng nợ tới khi bằng tài sản”.

Popular Posts