domain, domain name, premium domain name for sales

Tuesday, January 21, 2014

Môi trường kinh doanh, đầu tư khu vực Trung du - Miền núi phía Bắc

Báo cáo "Cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư khu vực Trung du - Miền núi phía Bắc"  được xây dựng trong năm 2013 nhằm mục đích đóng góp vào việc thúc đẩy các chính quyền địa phương nỗ lực cải thiện năng lực điều hành kinh tế và hỗ trợ việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tại các tỉnh TD&MNPB.

Kết quả nghiên cứu hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức của các lãnh đạo và cán bộ, các sở ngành về tầm quan trọng của khu vực tư nhân trong việc phát triển kinh tế địa phương và toàn vùng. Mục tiêu này nếu đạt được sẽ góp phần thúc đẩy và củng cố những cam kết của các chính quyền địa phương trong việc cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp.

Để tải báo cáo: Nhấn Like và gửi tin nhắn tại Fanpage Economica Vietnam

Hỗ trợ hiệu quả cho các chính quyền tỉnh thông qua việc gợi ý các giải pháp cụ thể nâng cao năng lực cạnh tranh cũng là yếu tố quan trọng mà nghiên cứu hướng đến. Mục tiêu này được thực hiện thông qua việc tìm ra và thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm và thực tiễn tốt trong điều hành kinh tế địa phương giữa các tỉnh trong khu vực miền núi phía Bắc.


Bên cạnh đó, các phân tích và giải pháp nêu ra được kỳ vọng sẽ hỗ trợ nâng cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp địa phương trong đối thoại công tư vì sự phát triển của kinh tế xã hội địa phương. Các hiệp hội được kỳ vọng sẽ trở thành “cầu nối” giữa cơ quan chính quyền với doanh nghiệp trong việc thảo luận và phổ biến chính sách.

Với việc nghiên cứu chỉ số PCI của 14 tỉnh miền núi phía Bắc, mục tiêu xuyên suốt của báo cáo cũng nhằm củng cố và tăng cường mối liên kết vùng giữa các tỉnh trong khu vực. Sự liên kết vùng thành công sẽ tạo nên sức mạnh đáng kể cho cả Vùng TD&MNPB trong quá trình phát triển kinh tế.

Quỹ Friedric Naumann là tổ chức tài trợ cho việc nghiên cứu và xuất bản báo cáo. Báo cáo được hoàn thành với sự tham gia của VCCI và Economica Vietnam.

Monday, October 14, 2013

Tài liệu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2013


Xuân - Thu nhị kỳ, Ủy ban Kinh tế Quốc hội một năm hai lần tổ chức các Hội thảo phân tích tình hình kinh tế Việt Nam hiện tại.

Dưới đây là tài liệu Diễn đàn kinh tế mùa Thu diễn ra trong tháng 09/2013.
Các bạn có thể download về theo link sau:
http://bit.ly/16H8Uan

Tài liệu diễn đàn kinh tế mùa Xuân đầu năm 2013 cũng có sẵn tại đây:
http://bit.ly/19zaWYw.

--------
Like và share Economica fanpage: www.facebook.com/economica.vn
Xin cảm ơn!

Wednesday, May 8, 2013

Một số vấn đề về chính sách quản lý thị trường vàng

Trong chương trình Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời trên truyền hình tối 5/5, thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình có nêu ra quan điểm tiếp cận của các chính sách với thị trường vàng. Cách tiếp cận ấy nếu nếu tóm tắt lại thì có thể thấy Ngân hàng Nhà nước đang nhằm từng bước hướng tới các mục tiêu: (i) đầu tiên là xây dựng một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ để quản lý thị trường vàng; (ii) tiến tới chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng; và (iii) cuối cùng sẽ chuyển hoàn toàn quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua, bán vàng miếng.

nguyen-van-binh[1]Tuy nhiên, mục tiêu là như vậy nhưng cách thực hiện của Ngân hàng Nhà nước không khỏi khiến nhiều chuyên gia và người quan tâm cảm thấy thắc mắc.  Sau những phiên đấu thầu, những vấn đề trong chính sách quản lý thị trường vàng ngày càng bộc lộ. Việc đấu thầu vàng phải chăng chỉ giúp các ngân hàng “tất toán” trạng thái vàng? Tại sao Ngân hàng Nhà nước lại phải làm thế? Việc này có bắt nguồn từ sai lầm trước đây của Ngân hàng Nhà nước hay không? Hơn nữa, mục tiêu cuối cùng là chống vàng hoá, ổn định vĩ mô liệu có đạt được khi mà vàng từ dự trữ ngoại hối của quốc gia, tức vàng tiền tệ được đem ra bán rộng rãi ra bên ngoài sau các phiên đấu giá?

Ngân hàng Nhà nước kỳ vọng mọi thứ sẽ đi đúng hướng sau thời điểm hoàn toàn chấm dứt nghiệp vụ huy động – cho vay vàng của các tổ chức tín dụng vào 30/6/2013. Điều này cho thấy họ chấp nhận những vấn đề trong ngắn hạn để tập trung cho mục tiêu lâu dài hơn. Dù vậy, cách làm của Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa đủ thuyết phục được dư luận.

Bài viết sau của nhà báo Nguyễn Vạn Phú sẽ phản biện một số vấn đề liên quan tới chính sách quản lý thị trường vàng:

-----

Sự thật đằng sau việc NHNN liên tục bán vàng

Nói “sự thật” cho kêu vậy chứ đến nay hầu như ai cũng rõ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bán vàng thông qua các phiên đấu thầu là nhằm giúp các ngân hàng thương mại tất toán trạng thái vàng. Vấn đề là vì sao NHNN phải làm như vậy?

Dùng chữ “tất toán” với “trạng thái” có thể gây khó hiểu. Nói theo kiểu đơn giản hóa, là trước đây ngân hàng thương mại huy động vàng của dân về hoặc đem cho vay lại, hoặc bán ra lấy tiền kinh doanh nay phải mua vàng để trả lại cho dân. Cho nên về mặt kỹ thuật có hai loại trạng thái: trạng thái cho vay và huy động và trạng thái kinh doanh. Cái đầu đã có lâu rồi còn cái sau mới có từ cuối năm 2011 và có phần trách nhiệm rất lớn của NHNN.

Đã làm thì phải chịu

Nếu nhớ lại, vào ngày 6-10-2011, NHNN thành lập nhóm G5+1, tức gồm năm ngân hàng thương mại (ACB, Đông Á, Techcombank, Eximbank và Sacombank) cộng với SJC với mục đích bình ổn giá vàng. Các ngân hàng này được chuyển đổi tối đa 40% số vàng tồn quỹ đã huy động của dân từ trước thành tiền mặt, tức bán vàng ồ ạt ra thị trường dưới danh nghĩa bình ổn giá theo yêu cầu của NHNN mặc dù trước đó đã có nhiều văn bản yêu cầu chấm dứt việc huy động vàng, cho vay bằng vàng...

Ngày đầu tiên bán ra 5 tấn và chỉ trong một tuần 10 tấn vàng đã được bán ra, sau đó lên 16 tấn (giá lúc đó khoảng 44-45 triệu/lượng, chênh lệch so với giá vàng thế giới chừng 1 triệu đến 1,5 triệu đồng).

Trên nguyên tắc, các ngân hàng này bán ra bao nhiêu vàng thì phải mua vào bấy nhiêu vàng trên tài khoản ở nước ngoài. Lúc đó ngân hàng nào được chọn cũng “phấn khởi” vì kiếm lãi dễ dàng. Nói là chỉ được bán 40% vàng tồn quỹ nhưng chắc chắn có tình trạng lấy vàng ở các ngân hàng khác về bán bởi lúc đó nhiều ngân hàng không nằm trong G5+1 vẫn nâng lãi suất huy động vàng lên cao, có khả năng đưa vàng cho G5+1 bán, lấy tiền về kinh doanh. Lãi suất huy động vàng được nâng lên cao từ 2% đến 3%, và trên nguyên tắc họ bị cấm huy động vàng nhưng vẫn huy động được theo kiểu giữ hộ. Nhiều nguồn tin nói người dân mua vàng về lại đem vào ngân hàng gởi hưởng lãi, ngân hàng lại tiếp tục bán ra. Tổng số vàng bán ra trong đợt bình ổn giá này là bao nhiêu, không rõ nhưng chắc chắn cao hơn con số 16 tấn, có lẽ vào khoảng 25 tấn như một số nguồn cho biết.

Ai nấy cứ tưởng giá vàng sẽ giảm, lúc đó họ sẽ mua lại vàng để bù lại chỗ đã bán ra hoặc cùng lắm thì nhập vàng từ tài khoản vàng ở nước ngoài về.

Không ngờ NHNN không cho nhập vàng vật chất, dành lấy vị thế độc quyền vàng, giá vàng thế giới lại tăng tiếp mãi cho đến gần đây mới giảm. Vậy là từ đó đến nay các ngân hàng liên tục mua vàng vào để tất toán trạng thái và chịu lỗ nặng. Đông Á cho biết lỗ trên 137 tỷ đồng do phải tất toán tài khoản vàng, ACB lỗ đến 1.800 tỷ đồng mới tất toán xong trạng thái. Eximbank cũng lỗ vài trăm tỷ đồng. Đó là chưa kể vàng trên tài khoản nước ngoài nay cũng lỗ vì mua với giá cao nay giá giảm mạnh.

Một người rành hoạt động kinh doanh vàng kiểu này cho rằng, do liên đới chịu trách nhiệm nên NHNN nay phải tìm cách bán vàng cho các ngân hàng thôi. Có người cho rằng các ngân hàng đã tất toán trạng thái kinh doanh vàng nay chỉ còn trạng thái cho vay và huy động vàng mà thôi. Dù sao đi nữa, vàng bán ra bao nhiêu là các ngân hàng mua hết chính vì nhu cầu tất toán đó.

Thử đặt mình vào vị trí của NHNN thì thấy nếu NHNN bán với giá thấp (gần bằng giá quốc tế) thì thiệt hại cho dự trữ quốc gia, lại mang tiếng hỗ trợ cho lợi ích nhóm; cho ngân hàng thương mại nhập khẩu thì phải bán đô-la cho họ với giá chính thức, cũng thiệt hại cho dự trữ ngoại hối. Nhưng thế thì phải nói thật, trình bày cho người dân nắm rõ chứ đừng loanh quanh lúc nói thế này lúc nói thế khác.

Thật ra, nếu NHNN lên tiếng thừa nhận sai lầm vào thời điểm yêu cầu G5+1 bán vàng bình ổn rồi làm đúng cam kết là cho các ngân hàng này nhập vàng từ tài khoản nước ngoài thì đã giải quyết được vấn đề một cách khéo léo hơn nhiều. Đằng này NHNN chọn cách giải thích vòng vo, đòi độc quyền vàng và đích thân bán vàng như một tổ chức kinh doanh. Hành động đó đã có những tác hại sẽ nói kỹ ở phần hai.

Vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ

Người ta thường phân vàng thành hai loại:

Vàng tiền tệ: Theo định nghĩa của các tổ chức tài chính quốc tế thì đây là loại vàng ngân hàng trung ương đưa vào dự trữ ngoại tệ. Tất cả các loại vàng còn lại là vàng phi tiền tệ. Tuy nhiên trong trường hợp Việt Nam, nhiều nhà kinh tế cho rằng cần phải xem vàng miếng do các ngân hàng thương mại huy động từ người dân, trả lãi cho họ, rồi đem cho vay cũng là vàng tiền tệ. Thậm chí vàng được đem ra để làm phương tiện thanh toán vào những năm trước cũng là vàng tiền tệ.

Vàng phi tiền tệ: Gồm cả vàng của người dân mua về làm trang sức, cất giữ như một phương tiện lưu trữ giá trị, hay vàng dùng trong công nghiệp.

Trước đây, NHNN đã làm đúng khi cố gắng hạn chế loại vàng tiền tệ, như không cho ngân hàng thương mại huy động vốn bằng vàng, không cho phép cho vay vốn bằng vàng, không được chuyển đổi vàng cất giữ dùm người dân thành tiền để kinh doanh. Nhà nước cũng dần dần xóa bỏ được thói quen dùng vàng làm phương tiện thanh toán, hiện nay ngay cả mua bán nhà, ít ai tính bằng vàng nữa. Lý do là khi tồn tại vàng tiền tệ trong nền kinh tế, xem như lượng tiền lưu thông bị thay đổi, bị khuếch đại lên, mà sự thay đổi, biến động đó không nằm trong vòng kiểm soát của NHNN nên dễ xảy ra biến động tỷ giá, lãi suất…

Có lẽ phần ở trên ai cũng thấy và ai cũng đồng ý. Chính Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cũng nói vàng là ngoại tệ.

Thế thì chỉ vì lý do như ở phần một mà NHNN lại lấy vàng từ dự trữ ngoại hối của quốc gia, tức vàng tiền tệ đem ra bán rộng rãi ra bên ngoài. Có phải Ngân hàng Nhà nước đang đi ngược lại chủ trương chống “vàng hóa” của mình? Có phải Ngân hàng Nhà nước đang pha loãng lượng tiền lưu thông bằng ngoại tệ, một yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của chính mình?

Quản lý dự trữ ngoại hối là một công tác quan trọng, không thể khinh suất bán hết vàng dự trữ trong khi các nước đã từng nâng tỷ lệ vàng dự trữ lên trong những năm qua. Bán như thế thì tỷ lệ vàng trong dự trữ ngoại hối sẽ giảm xuống còn bao nhiêu?

Việc Ngân hàng Nhà nước bán vàng tiền tệ ra thị trường như thế dẫn đến những hệ lụy:

- Hút tiền đồng về trong khi thị trường vẫn đang thiếu thanh khoản, dư nợ tín dụng tăng không đáng kể, đi ngược lại nỗ lực giảm lãi suất của thị trường.

- Làm giảm dự trữ ngoại hối trong bối cảnh xuất siêu chưa bền vững, vẫn còn nguy cơ nhập siêu lớn.

- Thay vì tìm cách huy động vàng trong dân như từng chủ trương, nay lại đưa vàng về cho dân cất dưới nệm.

Chính vì thế nhiều chuyên gia đã tiên đoán việc đấu thầu vàng như hiện nay sẽ không kéo dài được lâu, sẽ phải sớm chấm dứt.

Ở đây có câu hỏi nhiều người đặt ra: vì sao có sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế cao như thế mặc cho NHNN bán ra thị trường trên 15 tấn vàng? Lý do thì có nhiều nhưng một chuyên gia về vàng đưa ra một lý do mà tôi cho là chính xác nhất: Chừng nào NHNN còn độc quyền về vàng chừng đó giá sẽ còn chênh lệch như thế bởi độc quyền đồng nghĩa với khó mua nên dẫn đến tâm lý găm giữ vàng, ai có đều lo thủ thế nắm giữ chứ không bán ra, làm sao giá không chênh lệch cho được.

Khi NHNN nói và làm sai luật

Nghị định 86 về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước quy định: Dự trữ ngoại hối nhà nước bao gồm “vàng tiêu chuẩn quốc tế”. Điều 10 còn nói rõ hơn: “Vàng của Quỹ dự trữ ngoại hối phải là vàng tiêu chuẩn quốc tế”.

Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng quy định: “Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ”.

Trong hai văn bản này hoàn toàn không có dòng chữ nào về vàng thương hiệu quốc gia, không đề cập đến nhãn hiệu SJC.

Ngay chính Ngân hàng Nhà nước, trong một văn bản gần đây nhất, vẫn khẳng định:

- Nhà nước công nhận quyền nắm giữ, mua, bán tất cả các thương hiệu vàng miếng hợp pháp của người dân, không có sự phân biệt đối xử và không hạn chế lưu thông các thương hiệu vàng miếng khác SJC.

- Nghị định 24 và các quy định khác của pháp luật không có quy định nào bắt buộc phải chuyển đổi các loại vàng miếng khác sang vàng miếng SJC.

Khi ra Thông tư 16, hướng dẫn thi hành Nghị định 24, Ngân hàng Nhà nước cũng chưa đề cập đến thương hiện vàng quốc gia cũng như nhãn hiệu SJC.

Đến Thông tư 06, hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước thì Ngân hàng Nhà nước mới quy định loại vàng miếng được giao dịch mua bán: “Ngân hàng Nhà nước mua, bán vàng miếng hàm lượng 99,99%, loại 01 (một) lượng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất hoặc đã cho phép sản xuất trong các thời kỳ”. Cũng không có cụm từ “thương hiệu vàng quốc gia” hay “SJC”.

Trong lúc đó, phát biểu trước Quốc hội vào ngày 25-11-2012, Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói “Nhà nước sẽ độc quyền về sản xuất vàng miếng và trước mắt, SJC sẽ là thương hiệu vàng của Ngân hàng Nhà nước”.

Trước đó vào ngày 4-7-2012, Phó Thống đốc Lê Minh Hưng cũng cho báo chí biết “Ngân hàng Nhà nước đã báo cáo Chính phủ và thống nhất với UBND TPHCM quyết định lựa chọn thương hiệu vàng miếng SJC là thương hiệu vàng miếng của Nhà nước”.

Như vậy luật từ nghị định đến thông tư không đề cập, chỉ có lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước phát biểu một cách chính thức về SJC đã gây ra không biết bao nhiêu là tốn kém, phiền toái và lộn xộn.

- Chỉ tính riêng việc tạm xuất vàng bốn số chín phi SJC rồi nhập lại vàng nguyên liệu cũng bốn số chín về để dập thành vàng SJC, đã lãng phí biết bao nhiêu công sức và chi phí.

- Chênh lệch giá giữa vàng SJC và vàng phi SJC ngày càng lớn cũng do những tuyên bố và cách làm này.

Như vậy rõ ràng NHNN cần phải làm hai việc để chấm dứt sự bất ổn chung quanh vàng.

- Chấm dứt việc bán vàng từ nguồn dự trữ quốc gia vì góp phần tạo nên tình trạng vàng hóa và làm giảm dự trữ ngoại hối quốc gia. Tìm con đường khác để buộc các NHTM tất toán vàng, trả lại cho dân.

- Lãnh đạo NHNN lên chính thức đính chính phát biểu của mình để nói rõ không chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia.

Chỉ cần làm hai điều đó, tôi nghĩ cũng đã ổn định được thị trường.

Thursday, April 4, 2013

Tăng trưởng kinh tế sau 5 năm gia nhập WTO

"Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn so với kỳ vọng", đó là một trong số các kết quả chính rút ra từ "Báo cáo Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO" của CIEM mới diễn ra đầu tháng 4.2013.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn hậu WTO 2007-2011 đạt trung bình 6,5%/năm thấp hơn nhiều so với mức 7,8%/năm của giai đoạn 2002-2006 và 7,0% từ 1996-2000. GDP thậm chí đã có thể không tăng trưởng được như thế nếu không có gói kích cầu của Chính phủ năm 2009 với giá trị khoảng 9 tỷ USD. Gói kích cầu này rốt cuộc đã giúp kinh tế tăng trưởng 5,3% (2009), 6,78% (2010) và 5,89% (2011). Không dùng biện pháp kích cầu, GDP năm 2009 có lẽ đã chỉ tăng khoảng 4-4,5% (theo tính toán của CIEM).

Tuy vậy, cái giá phải trả khi tung ra gói kích cầu cũng không hề nhỏ. Chỉ giúp GDP tăng khoảng trên dưới 1 điểm phần trăm GDP nhưng những hệ lụy sau này mà gói kích cầu tạo ra như: Bong bóng bất động sản, lạm phát và nợ xấu vẫn còn ảnh hưởng dai dẳng, gây ra nhiều bất ổn vĩ mô cho tới nay.

GDP Vietnam 5-year WTO

5 năm sau khi gia nhập WTO, tác động tích cưc của Hội nhập tới tăng trưởng kinh tế vẫn không rõ ràng. Thậm chí cú sốc khủng hoảng kinh tế thế giới và sự thiếu nhất quán trong các chính sách kinh tế vĩ mô giai đoạn 2007-2011 đã làm nhiều chỉ số sút giảm đáng kể.

Trong 6,5% tăng trưởng bình quân năm giai đoạn 2007-2011, tăng trưởng nhờ vốn (K) chiếm tới 3,92 điểm phần trăm, trong khi năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) chiếm vỏn vẹn 0,87 điểm phần trăm. Giai đoạn 2002-2006, tốc độ tăng trưởng bình quân 7,8% có được từ sự đóng góp của các nhân tố sản xuất lần lượt là K (4,16 điểm %), L (1,84 điểm %) và TFP (1,80 điểm %). Tỷ trọng đóng góp của TFP giảm sút cho thấy tính hiệu quả không cao của nền sản xuất vốn còn dựa vào tăng trưởng chiều rộng hơn là chiều sâu.

Bên cạnh đó, không như kỳ vọng ban đầu của các chuyên gia, tốc độ tăng trưởng của các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp, xây dựng đều chậm lại so với trước khi gia nhập WTO. Nông, lâm, ngư nghiệp giảm 0,6 điểm phần trăm trong khi công nghiệp, xây dựng giảm tới 3,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 2002-2006.

Sau 5 năm trở thành thành viên của WTO, trên khía cạnh tăng trưởng kinh tế, rõ ràng nền kinh tế Việt Nam đang đối diện thách thức nhiều hơn là những cơ hội mà chúng ta đã kỳ vọng khi đàm phán gia nhập tổ chức thương mại toàn cầu này.

Nguồn ảnh: Economica Vietnam
Download: http://bit.ly/12lNtGY

Like Facebook Fanpage để ủng hộ chúng tôi: www.facebook.com/economica.vn

Tuesday, April 2, 2013

Bắt kịp Thái Lan: 10 năm tới, hoặc không bao giờ…

"Việt Nam có thể bắt kịp Thái Lan 10 năm tới, hoặc không bao giờ...", đó là nhận định của GS. Keinichi Ohno - một nhà nghiên cứu đã có gần 18 năm tham gia tư vấn chính sách kinh tế cho Việt Nam. (http://bit.ly/13OAP8b).

Có thể ai đó cho rằng GS. Keinichi Ohno hơi bi quan nếu nhìn vào so sánh giữa Việt Nam và Thái Lan trong xếp hạng Chỉ số Thịnh vượng Quốc gia 2012 của Legatum Institute: Việt Nam thậm chí còn "thịnh vượng" hơn Thái Lan (với thứ bậc 53 so với 56). Tuy nhiên, Việt Nam hơn điểm Thái Lan lại nhờ vào những chỉ số cảm tính như "An toàn & An ninh" hay "Sự tự do cá nhân", mà nói tới ai cũng biết người Việt Nam thường "lạc quan" và "hạnh phúc" thế nào so với các đất nước khác trên thế giới.

  
Với nền kinh tế kém phát triển hơn Thái Lan, môi trường doanh nghiệp chưa như kỳ vọng, thủ tục hành chính công còn cồng kềnh và nhất là giáo dục và y tế luôn thua sút so với nước bạn láng giềng trong khu vực, việc Việt Nam còn nhiều việc phải làm nếu muốn bắt kịp Thái Lan trong 10 năm nữa.


So sánh Việt Nam với Thái Lan về xếp hạng Chỉ số Thịnh vượng toàn cầu

The 2012 Legatum Prosperity Index


Việt Nam đang bước vào thời kỳ dân số vàng, đó là một thời cơ không thể tốt hơn để đưa kinh tế đi lên nếu các nhà hoạch định chính sách có tầm nhìn và biết "khai thác" một cách hiệu quả.

10 năm nữa hoặc không bao giờ, đã tới lúc "sự thịnh vượng" của Việt Nam không thể mãi "náu mình" trong những danh hiệu "ảo tưởng" của một quốc gia hạnh phúc nhất nhì thế giới...

“Gà” cùng một mẹ chớ hoài “đá” nhau…

Các Bộ cãi nhau hoài Hàng loạt cuộc tranh luận "nảy lửa" trong khoảng thời gian gần đây giữa các Bộ thuộc Chính Phủ đang cho người dân thấy "không khí dân chủ cởi mở" và sự nghiên cứu "kỹ lưỡng" của những nhà hoạch định chính sách. Hy vọng rằng: Mâu thuẫn sẽ là động lực cho phát triển. Các Bộ cứ "cãi" và kinh tế xã hội vẫn cứ đi lên!

1. Bộ Công an và Bộ Tư pháp "tranh giành" nhau về đề án thực hiện số định danh cá nhân.

2. Bộ Công an và Bộ Giao thông Vận tải "mắc mớ" trong vấn đề phạt xe không chính chủ, khi mà Bộ trưởng Thăng "tiếp thu" ý kiến người dân rút lại đề xuất dù trước đó có đồng thuận với Bộ Công an, trong khi Bộ Công an vẫn quyết tâm phạt người vi phạm tới nơi tới chốn.
 
3. Bộ Công an "liên minh" với 3 Bộ khác: Giao thông vận tải, Công Thương, Khoa học Công nghệ đề ra thông tư về xử phạt người đội mũ bảo hiểm không đạt chất lượng. Bộ Tư pháp vào cuộc bác thông tư liên tịch của liên bộ. Cuộc họp sau đó với các Bộ có liên quan để thống nhất dừng phát hành Thông tư liên tịch do Bộ Tư pháp chủ trì có sự tham gia của các bên, trừ đại diện của Bộ Công an.
 
4. Hôm 29/3, lại Bộ công an mà cụ thể là Tổng cục cảnh sát bất ngờ phê phán chính sách quy định vàng miếng SJC là thương hiệu vàng quốc gia của Ngân hàng Nhà nước đang gây phương hại tới các thương hiệu khác (bài trên Dân Trí).
 
5. Ngân hàng Nhà nước chưa kịp "phòng thủ" trước "chiêu" của Bộ Công an vì họ vẫn bận rộn giải thích với dư luận rằng đấu thầu vàng miếng để "bình ổn thị trường vàng chứ không bình ổn giá vàng"! đồng thời tranh thủ "tấn công" Bộ Kế hoạch Đầu tư khi đăng bài trên website bác bỏ phát ngôn của một vị Thứ trưởng Bộ này.
 
Hứa trước Quốc hội hồi tháng 10 năm ngoái, Thủ tướng Dũng có nói rằng Chính phủ sẽ đoàn kết nhất trí, hết lòng hết sức làm việc. Vậy mà bây giờ các Bộ cứ "xung khắc" liên tục là sao? Xem chừng Thủ tướng lại chuẩn bị phải "vào cuộc" thôi!

Popular Posts