Kết quả nghiên cứu hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức của các lãnh đạo và cán bộ, các sở ngành về tầm quan trọng của khu vực tư nhân trong việc phát triển kinh tế địa phương và toàn vùng. Mục tiêu này nếu đạt được sẽ góp phần thúc đẩy và củng cố những cam kết của các chính quyền địa phương trong việc cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp.
Cập nhật liên tục, chính xác các thông tin, sự kiện, chính sách, diễn biến của thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam với nhiều tin độc quyền..
Tuesday, January 21, 2014
Môi trường kinh doanh, đầu tư khu vực Trung du - Miền núi phía Bắc
Kết quả nghiên cứu hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức của các lãnh đạo và cán bộ, các sở ngành về tầm quan trọng của khu vực tư nhân trong việc phát triển kinh tế địa phương và toàn vùng. Mục tiêu này nếu đạt được sẽ góp phần thúc đẩy và củng cố những cam kết của các chính quyền địa phương trong việc cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp.
Monday, November 4, 2013
Monday, October 14, 2013
Tài liệu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm 2013
Dưới đây là tài liệu Diễn đàn kinh tế mùa Thu diễn ra trong tháng 09/2013.
Các bạn có thể download về theo link sau:
http://bit.ly/16H8Uan
Tài liệu diễn đàn kinh tế mùa Xuân đầu năm 2013 cũng có sẵn tại đây:
http://bit.ly/19zaWYw.
--------
Like và share Economica fanpage: www.facebook.com/economica.vn
Xin cảm ơn!
Wednesday, May 8, 2013
Một số vấn đề về chính sách quản lý thị trường vàng
Trong chương trình Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời trên truyền hình tối 5/5, thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình có nêu ra quan điểm tiếp cận của các chính sách với thị trường vàng. Cách tiếp cận ấy nếu nếu tóm tắt lại thì có thể thấy Ngân hàng Nhà nước đang nhằm từng bước hướng tới các mục tiêu: (i) đầu tiên là xây dựng một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ để quản lý thị trường vàng; (ii) tiến tới chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng; và (iii) cuối cùng sẽ chuyển hoàn toàn quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua, bán vàng miếng.
Tuy nhiên, mục tiêu là như vậy nhưng cách thực hiện của Ngân hàng Nhà nước không khỏi khiến nhiều chuyên gia và người quan tâm cảm thấy thắc mắc. Sau những phiên đấu thầu, những vấn đề trong chính sách quản lý thị trường vàng ngày càng bộc lộ. Việc đấu thầu vàng phải chăng chỉ giúp các ngân hàng “tất toán” trạng thái vàng? Tại sao Ngân hàng Nhà nước lại phải làm thế? Việc này có bắt nguồn từ sai lầm trước đây của Ngân hàng Nhà nước hay không? Hơn nữa, mục tiêu cuối cùng là chống vàng hoá, ổn định vĩ mô liệu có đạt được khi mà vàng từ dự trữ ngoại hối của quốc gia, tức vàng tiền tệ được đem ra bán rộng rãi ra bên ngoài sau các phiên đấu giá?
Ngân hàng Nhà nước kỳ vọng mọi thứ sẽ đi đúng hướng sau thời điểm hoàn toàn chấm dứt nghiệp vụ huy động – cho vay vàng của các tổ chức tín dụng vào 30/6/2013. Điều này cho thấy họ chấp nhận những vấn đề trong ngắn hạn để tập trung cho mục tiêu lâu dài hơn. Dù vậy, cách làm của Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa đủ thuyết phục được dư luận.
Bài viết sau của nhà báo Nguyễn Vạn Phú sẽ phản biện một số vấn đề liên quan tới chính sách quản lý thị trường vàng:
-----
Sự thật đằng sau việc NHNN liên tục bán vàng
Nói “sự thật” cho kêu vậy chứ đến nay hầu như ai cũng rõ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bán vàng thông qua các phiên đấu thầu là nhằm giúp các ngân hàng thương mại tất toán trạng thái vàng. Vấn đề là vì sao NHNN phải làm như vậy?
Dùng chữ “tất toán” với “trạng thái” có thể gây khó hiểu. Nói theo kiểu đơn giản hóa, là trước đây ngân hàng thương mại huy động vàng của dân về hoặc đem cho vay lại, hoặc bán ra lấy tiền kinh doanh nay phải mua vàng để trả lại cho dân. Cho nên về mặt kỹ thuật có hai loại trạng thái: trạng thái cho vay và huy động và trạng thái kinh doanh. Cái đầu đã có lâu rồi còn cái sau mới có từ cuối năm 2011 và có phần trách nhiệm rất lớn của NHNN.
Đã làm thì phải chịu
Nếu nhớ lại, vào ngày 6-10-2011, NHNN thành lập nhóm G5+1, tức gồm năm ngân hàng thương mại (ACB, Đông Á, Techcombank, Eximbank và Sacombank) cộng với SJC với mục đích bình ổn giá vàng. Các ngân hàng này được chuyển đổi tối đa 40% số vàng tồn quỹ đã huy động của dân từ trước thành tiền mặt, tức bán vàng ồ ạt ra thị trường dưới danh nghĩa bình ổn giá theo yêu cầu của NHNN mặc dù trước đó đã có nhiều văn bản yêu cầu chấm dứt việc huy động vàng, cho vay bằng vàng...
Ngày đầu tiên bán ra 5 tấn và chỉ trong một tuần 10 tấn vàng đã được bán ra, sau đó lên 16 tấn (giá lúc đó khoảng 44-45 triệu/lượng, chênh lệch so với giá vàng thế giới chừng 1 triệu đến 1,5 triệu đồng).
Trên nguyên tắc, các ngân hàng này bán ra bao nhiêu vàng thì phải mua vào bấy nhiêu vàng trên tài khoản ở nước ngoài. Lúc đó ngân hàng nào được chọn cũng “phấn khởi” vì kiếm lãi dễ dàng. Nói là chỉ được bán 40% vàng tồn quỹ nhưng chắc chắn có tình trạng lấy vàng ở các ngân hàng khác về bán bởi lúc đó nhiều ngân hàng không nằm trong G5+1 vẫn nâng lãi suất huy động vàng lên cao, có khả năng đưa vàng cho G5+1 bán, lấy tiền về kinh doanh. Lãi suất huy động vàng được nâng lên cao từ 2% đến 3%, và trên nguyên tắc họ bị cấm huy động vàng nhưng vẫn huy động được theo kiểu giữ hộ. Nhiều nguồn tin nói người dân mua vàng về lại đem vào ngân hàng gởi hưởng lãi, ngân hàng lại tiếp tục bán ra. Tổng số vàng bán ra trong đợt bình ổn giá này là bao nhiêu, không rõ nhưng chắc chắn cao hơn con số 16 tấn, có lẽ vào khoảng 25 tấn như một số nguồn cho biết.
Ai nấy cứ tưởng giá vàng sẽ giảm, lúc đó họ sẽ mua lại vàng để bù lại chỗ đã bán ra hoặc cùng lắm thì nhập vàng từ tài khoản vàng ở nước ngoài về.
Không ngờ NHNN không cho nhập vàng vật chất, dành lấy vị thế độc quyền vàng, giá vàng thế giới lại tăng tiếp mãi cho đến gần đây mới giảm. Vậy là từ đó đến nay các ngân hàng liên tục mua vàng vào để tất toán trạng thái và chịu lỗ nặng. Đông Á cho biết lỗ trên 137 tỷ đồng do phải tất toán tài khoản vàng, ACB lỗ đến 1.800 tỷ đồng mới tất toán xong trạng thái. Eximbank cũng lỗ vài trăm tỷ đồng. Đó là chưa kể vàng trên tài khoản nước ngoài nay cũng lỗ vì mua với giá cao nay giá giảm mạnh.
Một người rành hoạt động kinh doanh vàng kiểu này cho rằng, do liên đới chịu trách nhiệm nên NHNN nay phải tìm cách bán vàng cho các ngân hàng thôi. Có người cho rằng các ngân hàng đã tất toán trạng thái kinh doanh vàng nay chỉ còn trạng thái cho vay và huy động vàng mà thôi. Dù sao đi nữa, vàng bán ra bao nhiêu là các ngân hàng mua hết chính vì nhu cầu tất toán đó.
Thử đặt mình vào vị trí của NHNN thì thấy nếu NHNN bán với giá thấp (gần bằng giá quốc tế) thì thiệt hại cho dự trữ quốc gia, lại mang tiếng hỗ trợ cho lợi ích nhóm; cho ngân hàng thương mại nhập khẩu thì phải bán đô-la cho họ với giá chính thức, cũng thiệt hại cho dự trữ ngoại hối. Nhưng thế thì phải nói thật, trình bày cho người dân nắm rõ chứ đừng loanh quanh lúc nói thế này lúc nói thế khác.
Thật ra, nếu NHNN lên tiếng thừa nhận sai lầm vào thời điểm yêu cầu G5+1 bán vàng bình ổn rồi làm đúng cam kết là cho các ngân hàng này nhập vàng từ tài khoản nước ngoài thì đã giải quyết được vấn đề một cách khéo léo hơn nhiều. Đằng này NHNN chọn cách giải thích vòng vo, đòi độc quyền vàng và đích thân bán vàng như một tổ chức kinh doanh. Hành động đó đã có những tác hại sẽ nói kỹ ở phần hai.
Vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ
Người ta thường phân vàng thành hai loại:
Vàng tiền tệ: Theo định nghĩa của các tổ chức tài chính quốc tế thì đây là loại vàng ngân hàng trung ương đưa vào dự trữ ngoại tệ. Tất cả các loại vàng còn lại là vàng phi tiền tệ. Tuy nhiên trong trường hợp Việt Nam, nhiều nhà kinh tế cho rằng cần phải xem vàng miếng do các ngân hàng thương mại huy động từ người dân, trả lãi cho họ, rồi đem cho vay cũng là vàng tiền tệ. Thậm chí vàng được đem ra để làm phương tiện thanh toán vào những năm trước cũng là vàng tiền tệ.
Vàng phi tiền tệ: Gồm cả vàng của người dân mua về làm trang sức, cất giữ như một phương tiện lưu trữ giá trị, hay vàng dùng trong công nghiệp.
Trước đây, NHNN đã làm đúng khi cố gắng hạn chế loại vàng tiền tệ, như không cho ngân hàng thương mại huy động vốn bằng vàng, không cho phép cho vay vốn bằng vàng, không được chuyển đổi vàng cất giữ dùm người dân thành tiền để kinh doanh. Nhà nước cũng dần dần xóa bỏ được thói quen dùng vàng làm phương tiện thanh toán, hiện nay ngay cả mua bán nhà, ít ai tính bằng vàng nữa. Lý do là khi tồn tại vàng tiền tệ trong nền kinh tế, xem như lượng tiền lưu thông bị thay đổi, bị khuếch đại lên, mà sự thay đổi, biến động đó không nằm trong vòng kiểm soát của NHNN nên dễ xảy ra biến động tỷ giá, lãi suất…
Có lẽ phần ở trên ai cũng thấy và ai cũng đồng ý. Chính Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cũng nói vàng là ngoại tệ.
Thế thì chỉ vì lý do như ở phần một mà NHNN lại lấy vàng từ dự trữ ngoại hối của quốc gia, tức vàng tiền tệ đem ra bán rộng rãi ra bên ngoài. Có phải Ngân hàng Nhà nước đang đi ngược lại chủ trương chống “vàng hóa” của mình? Có phải Ngân hàng Nhà nước đang pha loãng lượng tiền lưu thông bằng ngoại tệ, một yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của chính mình?
Quản lý dự trữ ngoại hối là một công tác quan trọng, không thể khinh suất bán hết vàng dự trữ trong khi các nước đã từng nâng tỷ lệ vàng dự trữ lên trong những năm qua. Bán như thế thì tỷ lệ vàng trong dự trữ ngoại hối sẽ giảm xuống còn bao nhiêu?
Việc Ngân hàng Nhà nước bán vàng tiền tệ ra thị trường như thế dẫn đến những hệ lụy:
- Hút tiền đồng về trong khi thị trường vẫn đang thiếu thanh khoản, dư nợ tín dụng tăng không đáng kể, đi ngược lại nỗ lực giảm lãi suất của thị trường.
- Làm giảm dự trữ ngoại hối trong bối cảnh xuất siêu chưa bền vững, vẫn còn nguy cơ nhập siêu lớn.
- Thay vì tìm cách huy động vàng trong dân như từng chủ trương, nay lại đưa vàng về cho dân cất dưới nệm.
Chính vì thế nhiều chuyên gia đã tiên đoán việc đấu thầu vàng như hiện nay sẽ không kéo dài được lâu, sẽ phải sớm chấm dứt.
Ở đây có câu hỏi nhiều người đặt ra: vì sao có sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế cao như thế mặc cho NHNN bán ra thị trường trên 15 tấn vàng? Lý do thì có nhiều nhưng một chuyên gia về vàng đưa ra một lý do mà tôi cho là chính xác nhất: Chừng nào NHNN còn độc quyền về vàng chừng đó giá sẽ còn chênh lệch như thế bởi độc quyền đồng nghĩa với khó mua nên dẫn đến tâm lý găm giữ vàng, ai có đều lo thủ thế nắm giữ chứ không bán ra, làm sao giá không chênh lệch cho được.
Khi NHNN nói và làm sai luật
Nghị định 86 về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước quy định: Dự trữ ngoại hối nhà nước bao gồm “vàng tiêu chuẩn quốc tế”. Điều 10 còn nói rõ hơn: “Vàng của Quỹ dự trữ ngoại hối phải là vàng tiêu chuẩn quốc tế”.
Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng quy định: “Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ”.
Trong hai văn bản này hoàn toàn không có dòng chữ nào về vàng thương hiệu quốc gia, không đề cập đến nhãn hiệu SJC.
Ngay chính Ngân hàng Nhà nước, trong một văn bản gần đây nhất, vẫn khẳng định:
- Nhà nước công nhận quyền nắm giữ, mua, bán tất cả các thương hiệu vàng miếng hợp pháp của người dân, không có sự phân biệt đối xử và không hạn chế lưu thông các thương hiệu vàng miếng khác SJC.
- Nghị định 24 và các quy định khác của pháp luật không có quy định nào bắt buộc phải chuyển đổi các loại vàng miếng khác sang vàng miếng SJC.
Khi ra Thông tư 16, hướng dẫn thi hành Nghị định 24, Ngân hàng Nhà nước cũng chưa đề cập đến thương hiện vàng quốc gia cũng như nhãn hiệu SJC.
Đến Thông tư 06, hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước thì Ngân hàng Nhà nước mới quy định loại vàng miếng được giao dịch mua bán: “Ngân hàng Nhà nước mua, bán vàng miếng hàm lượng 99,99%, loại 01 (một) lượng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất hoặc đã cho phép sản xuất trong các thời kỳ”. Cũng không có cụm từ “thương hiệu vàng quốc gia” hay “SJC”.
Trong lúc đó, phát biểu trước Quốc hội vào ngày 25-11-2012, Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói “Nhà nước sẽ độc quyền về sản xuất vàng miếng và trước mắt, SJC sẽ là thương hiệu vàng của Ngân hàng Nhà nước”.
Trước đó vào ngày 4-7-2012, Phó Thống đốc Lê Minh Hưng cũng cho báo chí biết “Ngân hàng Nhà nước đã báo cáo Chính phủ và thống nhất với UBND TPHCM quyết định lựa chọn thương hiệu vàng miếng SJC là thương hiệu vàng miếng của Nhà nước”.
Như vậy luật từ nghị định đến thông tư không đề cập, chỉ có lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước phát biểu một cách chính thức về SJC đã gây ra không biết bao nhiêu là tốn kém, phiền toái và lộn xộn.
- Chỉ tính riêng việc tạm xuất vàng bốn số chín phi SJC rồi nhập lại vàng nguyên liệu cũng bốn số chín về để dập thành vàng SJC, đã lãng phí biết bao nhiêu công sức và chi phí.
- Chênh lệch giá giữa vàng SJC và vàng phi SJC ngày càng lớn cũng do những tuyên bố và cách làm này.
Như vậy rõ ràng NHNN cần phải làm hai việc để chấm dứt sự bất ổn chung quanh vàng.
- Chấm dứt việc bán vàng từ nguồn dự trữ quốc gia vì góp phần tạo nên tình trạng vàng hóa và làm giảm dự trữ ngoại hối quốc gia. Tìm con đường khác để buộc các NHTM tất toán vàng, trả lại cho dân.
- Lãnh đạo NHNN lên chính thức đính chính phát biểu của mình để nói rõ không chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia.
Chỉ cần làm hai điều đó, tôi nghĩ cũng đã ổn định được thị trường.
Thursday, April 4, 2013
Tăng trưởng kinh tế sau 5 năm gia nhập WTO
"Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn so với kỳ vọng", đó là một trong số các kết quả chính rút ra từ "Báo cáo Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO" của CIEM mới diễn ra đầu tháng 4.2013.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn hậu WTO 2007-2011 đạt trung bình 6,5%/năm thấp hơn nhiều so với mức 7,8%/năm của giai đoạn 2002-2006 và 7,0% từ 1996-2000. GDP thậm chí đã có thể không tăng trưởng được như thế nếu không có gói kích cầu của Chính phủ năm 2009 với giá trị khoảng 9 tỷ USD. Gói kích cầu này rốt cuộc đã giúp kinh tế tăng trưởng 5,3% (2009), 6,78% (2010) và 5,89% (2011). Không dùng biện pháp kích cầu, GDP năm 2009 có lẽ đã chỉ tăng khoảng 4-4,5% (theo tính toán của CIEM).
Tuy vậy, cái giá phải trả khi tung ra gói kích cầu cũng không hề nhỏ. Chỉ giúp GDP tăng khoảng trên dưới 1 điểm phần trăm GDP nhưng những hệ lụy sau này mà gói kích cầu tạo ra như: Bong bóng bất động sản, lạm phát và nợ xấu vẫn còn ảnh hưởng dai dẳng, gây ra nhiều bất ổn vĩ mô cho tới nay.
5 năm sau khi gia nhập WTO, tác động tích cưc của Hội nhập tới tăng trưởng kinh tế vẫn không rõ ràng. Thậm chí cú sốc khủng hoảng kinh tế thế giới và sự thiếu nhất quán trong các chính sách kinh tế vĩ mô giai đoạn 2007-2011 đã làm nhiều chỉ số sút giảm đáng kể.
Trong 6,5% tăng trưởng bình quân năm giai đoạn 2007-2011, tăng trưởng nhờ vốn (K) chiếm tới 3,92 điểm phần trăm, trong khi năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) chiếm vỏn vẹn 0,87 điểm phần trăm. Giai đoạn 2002-2006, tốc độ tăng trưởng bình quân 7,8% có được từ sự đóng góp của các nhân tố sản xuất lần lượt là K (4,16 điểm %), L (1,84 điểm %) và TFP (1,80 điểm %). Tỷ trọng đóng góp của TFP giảm sút cho thấy tính hiệu quả không cao của nền sản xuất vốn còn dựa vào tăng trưởng chiều rộng hơn là chiều sâu.
Bên cạnh đó, không như kỳ vọng ban đầu của các chuyên gia, tốc độ tăng trưởng của các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp, xây dựng đều chậm lại so với trước khi gia nhập WTO. Nông, lâm, ngư nghiệp giảm 0,6 điểm phần trăm trong khi công nghiệp, xây dựng giảm tới 3,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 2002-2006.
Sau 5 năm trở thành thành viên của WTO, trên khía cạnh tăng trưởng kinh tế, rõ ràng nền kinh tế Việt Nam đang đối diện thách thức nhiều hơn là những cơ hội mà chúng ta đã kỳ vọng khi đàm phán gia nhập tổ chức thương mại toàn cầu này.
Nguồn ảnh: Economica Vietnam
Download: http://bit.ly/12lNtGY
Like Facebook Fanpage để ủng hộ chúng tôi: www.facebook.com/economica.vn
Tuesday, April 2, 2013
Bắt kịp Thái Lan: 10 năm tới, hoặc không bao giờ…
“Gà” cùng một mẹ chớ hoài “đá” nhau…
1. Bộ Công an và Bộ Tư pháp "tranh giành" nhau về đề án thực hiện số định danh cá nhân.
2. Bộ Công an và Bộ Giao thông Vận tải "mắc mớ" trong vấn đề phạt xe không chính chủ, khi mà Bộ trưởng Thăng "tiếp thu" ý kiến người dân rút lại đề xuất dù trước đó có đồng thuận với Bộ Công an, trong khi Bộ Công an vẫn quyết tâm phạt người vi phạm tới nơi tới chốn.
Popular Posts
-
Xác suất kết hợp và xác suất điều kiện là một thước đo nữa của tính phụ thuộc. Xác suất kết hợp của hai sự kiện là xác suất hai sự...
-
Nguồn: Blog "lên đông xuống đoài" Để hiểu ý nghĩa chính trị của đồng euro, cần xem xét các nguyên nhân của nó. Trong mắt người Đức...
-
My presentation at the Launching Ceremony of Lao Cai's 2015 District Competitiveness Index.
-
Hệ thống FTP kết nối quản lý rủi ro toàn diện với các đơn vị kinh doanh và giao dịch. Đó là một phần quan trọng trong quản lý rủi ro ...
-
So khớp tiền mặt có nghĩa là khâu hao tài sản và nợ gần giống nhau. Trong trường hợp đó sẽ không có rủi ro lệch hạn. Tất cả những khe h...
-
Sự chia rẽ giữa những người thiết kế mô hình và người sử dụng làm giảm khả năng các ngân hàng tìm ra những rủi ro ẩn chứa trong các mô ...
-
Hi! This post is for a brief introduction of a new book which I jointly engaged in writing. Book title: A journey toward linkage: Best prac...
-
Economics In Everyday LIfe from MrRed
-
By Seema Joshi Studies reveal that Vietnam is the only country among the Next Eleven (N-11) countries that has managed to maintain a growt...

