domain, domain name, premium domain name for sales
Showing posts with label nhà kinh tế. Show all posts
Showing posts with label nhà kinh tế. Show all posts

Wednesday, February 22, 2012

Playboy và Paul Krugman


Theo: NVP Blog

Tạp chí Playboy thì có lẽ ai cũng từng nghe danh, dù chỉ xem một hai hình “mát mẻ” cắt ra từ thuở nào. Paul Krugman là nhân vật nổi tiếng nhưng ở hướng hoàn toàn khác, ông là nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2008 và là cây bút bình luận ăn khách của tờ New York Times. Vậy mà Playboy, tờ báo chuyên đăng hình các cô ăn mặc kiểu Eva lại đi phỏng vấn Paul Krugman về những vấn đề kinh tế của Mỹ và thế giới!

Thật ra, bởi hình ảnh trên Playboy bắt mắt quá nên nhiều người không biết chứ tờ tạp chí này vẫn đăng những tác phẩm rất nghiêm túc của những nhà văn tên tuổi, những bài phỏng vấn nhiều nhân vật “mũ cao, áo rộng”, kể cả Jimmy Carter lúc ông này ra tranh cử tổng thống Mỹ.
Tuy vậy, cách Playboy dẫn dắt câu chuyện và lối Paul Krugman trả lời một tờ báo không chuyên về kinh tế rất đáng để nghiên cứu, học hỏi. Tác giả bài phỏng vấn là Jonathan Tasini, cũng là một nhân vật đặc biệt, chuyên viết về các vấn đề lao động, kinh tế, từng ra tranh cử ghế Thượng nghị sĩ, từng làm chủ tịch Liên đoàn Nhà văn quốc gia. Từ nhiều giờ trò chuyện với Krugman ở nhiều địa điểm, Tasini mới viết lại thành bài phỏng vấn với văn phong cố ý đơn giản, dùng từ phổ thông, lập luận dễ hiểu để phù hợp với độc giả rất đa dạng của Playboy.

Chẳng hạn, mở đầu, người phỏng vấn “giả vờ” hỏi: “Dường như tháng nào cũng có người tranh cãi nhau chúng ta đang ở trong cơn suy thoái (recession) hay cuộc khủng hoảng (depression). Thế chúng ta đang suy thoái hay khủng hoảng? Hay là một thứ gì khác?
  
Hỏi như thế là để chẩn đoán tình hình thực tế của kinh tế Mỹ, chứ không phải nhằm đi vào thêm một cuộc tranh cãi khác về hai từ “suy thoái” (GDP sụt giảm hai quý liên tục hay thất nghiệp tăng 1,5% trong vòng 12 tháng) hay “khủng hoảng” (GDP giảm trên 10% hay suy thoái quá 3 năm). Cho nên Krugman trả lời, bất kể những loại định nghĩa nói trên, rằng suy thoái đã chính thức chấm dứt vào tháng 6-2009 lúc nhiều thứ như sản xuất công nghiệp, GDP bắt đầu hồi phục nhưng nước Mỹ vẫn đang ở trong tình trạng khủng hoảng. Lý do ông đưa ra cũng là những hình ảnh người đọc Playboy có thể kiểm chứng: đã bốn năm nay nước Mỹ chịu cảnh tỷ lệ thất nghiệp cao, khó kiếm việc làm, tính ra cứ 7 người thì có 1 người thất nghiệp, sinh viên giỏi mới ra trường không kiếm được việc làm...

Dễ thấy là sau phần này, cả người hỏi lẫn người trả lời ắt phải đi tới kết luận, dân Mỹ đang gánh chịu cảnh khổ mà lẽ ra không cần phải gánh nếu nhà làm chính sách chịu làm đúng theo bài bản. Bài bản đó, theo cách ví von dễ hiểu của Krugman, là giả thử có người ngoài hành tinh xuống tấn công nước Mỹ, dân Mỹ phải tập trung chống cự, thì chỉ trong vòng 18 tháng, nạn thất nghiệp sẽ biến mất. Chủ trương của Krugman là chính quyền đổ tiền vào các công trình hạ tầng để kích cầu việc làm, những việc còn lại tự chúng sẽ được giải quyết.

Cũng vì để phục vụ một loại độc giả đa dạng, người hỏi nhảy từ đề tài này sang đề tài khác miễn sao các câu hỏi cũng là thắc mắc của nhiều độc giả Playboy. Từ câu: “Có phải nước Mỹ đang trở thành một nền cộng hòa chuối?” (để nói về tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập, sự bất lực của hệ thống chính trị khi đi tìm sự đồng thuận trong chính sách kinh tế…) đến câu “Thế còn vai trò của Wall Street?” (để nói về lòng tham, sự lừa dối của giới tài chính). Ở đây, Krugman cũng là bậc thầy dùng hình ảnh ví von để thuyết phục người đọc. Ông nói, tình hình cũng tương tự chuyện cá cược theo kiểu dân tài chính thuyết phục người dân, ngửa tôi ăn, còn sấp thì người khác thua nhé. Cách ví von đó xuất hiện khá thường xuyên, chẳng hạn, khi được hỏi về vai trò của phong trào “Chiếm lấy Phố Wall” vì nhiều người chê trách rằng phong trào này không có một thông điệp rõ ràng, Paul Krugman nói ngắn gọn, “Chiếm lấy Phố Wall” đã đóng đẹp vai trò của nó vì chúng ta không cần những bản đề xuất gồm 10 điểm, chúng ta cần có ai đó tuyên bố hoàng đế đang ở truồng!

Nổi tiếng là người tấn công Bush liên tục trên báo New York Times, ngày nay Krugman lại xoay qua tấn công Obama. Với Playboy, ông nhận xét thẳng: “Obama là loại người phò chính thống”. Tức là nếu loại bỏ phong cách nói chuyện rất hấp dẫn của Obama, nếu không bị chinh phục bởi logich hình thức của Obama, cái đọng lại là những quan điểm rất ôn hòa, cẩn trọng, theo lối khôn ngoan của một chính khách lão luyện. Đó là bởi Krugman cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng, cần chi tiêu nhiều hơn nữa: “Chúng ta đang có những công nhân ngồi không, có kỹ năng và sẵn sàng làm việc, chúng ta có nhà máy đang để không”. Cho nên không cần kêu gọi thắt lưng buộc bụng, chia sẻ sự hy sinh một cách hình thức. Krugman chủ trương chuyện bất bình đẳng trong thu nhập, cứ để đó giải quyết sau, bây giờ là lúc kích cầu bằng mọi cách để thoát khủng hoảng trước đã.
 
Rõ ràng những vấn đề kinh tế phức tạp vẫn có thể diễn đạt bằng từ ngữ đơn giản, những khái niệm dắt dây như công đoàn, lương thưởng giám đốc, thuế má vẫn có thể giải thích bằng những minh họa ai cũng có thể nhận ra. Chẳng lạ gì nhiều người cho rằng Paul Krugman là một trí thức công khi ra sức làm cho công chúng hiểu điều ông tin vào và muốn nói ra. Còn người ta có nghe theo ông hay không lại là điều khác nữa. Ví dụ, đối với Hy Lạp, Ý, ông cho rằng các nước này phải in thật nhiều tiền để giải quyết vấn đề trong ngắn hạn cho nên sự tan vỡ của khối sử dụng đồng euro, những nước như Hy Lạp phải chia tay với đồng euro là có khả năng xảy ra.

Góc nhìn của Krugman làm người phỏng vấn cuối cùng phải thốt lên: “Chẳng lạ gì người ta gạt ông sang bên là loại người quá bi quan”. Dù sao tháng Ba này sẽ có nhiều người mua Playboy mà không ngại ngùng che giấu vì họ sẽ bảo, tôi mua để đọc bài phỏng vấn Paul Krugman!

Thursday, January 12, 2012

Marx vẫn sai lầm?

Một bài viết có ích cho những sinh viên đã và đang theo học môn "Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin".
Bài viết đề cập đến tư tưởng về Kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa của Marx: LINK.

Wednesday, December 28, 2011

Lời khuyên cho những nhà kinh tế nhiệt huyết và đam mê

Professor: Gregory Mankiw

Một sinh viên nước ngoài email cho tôi, với câu hỏi như sau:

Thưa giáo sư, giáo sư có gợi ý nào cho em, làm sao để trở thành một nhà kinh tế giỏi?

…..

Đây là một số lời khuyên của tôi cho những sinh viên Đại học những sinh viên mà xác định theo đuổi sự nghiệp của mình như một nhà kinh tế.

1. Hãy học nhiều khóa học về toán và thống kê tới mức mà bạn có thể “tiêu hóa” được.

2. Chọn lớp học phần Kinh tế học từ những giáo sư nhiệt tình với chuyên môn và coi trọng công việc giảng dạy. Hãy lờ đi những chủ đề khác biệt còn bao trùm môn học khi chọn những môn này. Tất cả các mảng kiến thức trong Kinh tế học dù là còn tranh cãi giữa những nhà kinh tế, có thể được truyền đạt một cách hấp dẫn hay chán ngắt, tùy thuộc vào người hướng dẫn.

3. Hãy dành những mùa hè của bạn để trải nghiệm Kinh tế học từ những khía cạnh khác biệt. Dành một mùa hè làm việc như một trợ lý nghiên cứu cho Giáo sư, một mùa hè làm việc liên quan đến lĩnh vực chính sách cho Chính phủ, và một mùa hè nữa làm trong khu vực tư nhân.

4. Đọc Kinh tế học như là thú vui trong những lúc rảnh rỗi.

5. Theo dõi các tin tức kinh tế. Tin tức tổng hợp hàng tuần tốt nhất là của The Economist. Tin tức hàng ngày tốt nhất là Thời báo Phố Wall (WSJ).

6. Nếu bạn đang nghiên cứu tại các trường Đại học, hãy tham dự các hội thảo về nghiên cứu tại trường khoảng 1 lần mỗi tuần. Ban đầu, bạn có thể không hiểu hết những vấn đề thảo luận, bởi vì chúng dường như khá nặng về tính kỹ thuật, thế nhưng sau đó bạn sẽ lĩnh hội nhiều hơn bạn tưởng đấy, và thậm chí biết đâu bạn có thể tự tổ chức một buổi hội thảo cho bản thân mình.

Theo: Advice for Aspiring Economist, Greg Mankiw’s Blog.

Monday, November 14, 2011

Krugman vs Summers: The debate

x Munk Debates TST-CIA108.jpg


I’m glad I found myself in Toronto this evening, because tonight’s Munk Debate was illuminating and enjoyable. The motion was that “North America faces a Japan-style era of high unemployment and slow growth”; Paul Krugman was arguing for it, while Larry Summers was arguing against.
Krugman found himself with the home-team advantage through being paired with Canadian economist David Rosenberg; Summers had strong rhetorical backup from Eurasia Group’s Ian Bremmer. But at heart, this was Krugman vs Summers, which is an inspired match-up: especially in election season, one of the most important criteria for any debate is that it not cleave easily and obviously along party-political lines. That way people just end up voting their party and rehearsing tired party-political talking points.
This debate, because it took place within a basically Keynesian, leftist worldview, was very interesting. Both Krugman and Summers spent a lot of time saying that they agreed with each other — with one big difference. They both quoted Keynes as diagnosing “magneto trouble” — the engine of the economy is broken, and it needs to be fixed. Summers has faith that, in Churchill’s phrase, “Americans can always be counted on to do the right thing, after they have exhausted all other possibilities” — the right thing, here, being to fix the magneto with expansionary fiscal and monetary policy. Krugman, by contrast, sees political gridlock as far as the eye can see, and says that it doesn’t matter how innovative or philanthropic or demographically attractive the U.S. is — if you don’t fix the magneto, the car won’t start, and America’s magneto ain’t gonna get fixed any time soon.
Economically speaking, the Nobel laureate largely had the better of the technocrat. We’re alreadyfour years from the beginning of the U.S. recession, and we’ve certainly been going nowhere over that time — the question isn’t whether the economy is lost, so much as whether there’s something which can help it back onto its feet in the next few years. As Rosenberg said, if you look at employment, or the stock market, or median income, or house prices, all of them are back to where they were years ago. Things might improve in the future, but they sure aren’t healthy right now. And Japan is proof that economies can stagnate more or less indefinitely — it’s now, as Krugman pointed out, 19 years into its “lost decade”.
And Summers made a couple of surprising rhetorical missteps, for someone who cut his teeth on debate teams. At the very beginning he praised the debate’s sponsors, Peter and Melanie Munk, holding them up as an example of how North American philanthropists help to keep the continent vibrant. But the gesture rang a little hollow, coming as it did from a man who was being paid extremely handsomely to turn up and do the bidding of the Munks’ charitable foundation. Summers is many things, but he’s hardly top of the list of people in need of large philanthropic donations.
Summers also tried to defend inequality, at least in part, by saying that “suppose the United States had 30 more people like Steve Jobs” — that, he said, would be a good thing even as it increased inequality. “So we do need to recognize that a component of this inequality is the other side of successful entrepreneurship; that is surely something we want to encourage.” This might have been received better had Summers not earlier praised America, while pointing to Bremmer, as “the only country in the world where you can raise your first $100 million before you buy your first suit and tie”.
Bremmer is undoubtedly a rich and successful entrepreneur — and one who never wears a tie, to boot — but he’s making money entirely from the 0.1%, and at heart Eurasia Group’s business model is one which does better as the ultra-rich get richer. In the context of a debate about how to rescue the economy for the other 99% of us, it doesn’t much help to point to One Percenters like Jobs and Bremmer who have managed to do well for themselves in an otherwise stagnant economy.
For his part, Bremmer had one theme, and he was sticking to it: the U.S. might be in a mess, but it has stronger fundamentals than other regions, especially Europe and Japan. But Bremmer never explained how being not-as-bad-as-Europe was going to help drag the U.S. out of its current slump, especially when, as Krugman pointed out, every single country to successfully recover from a financial crisis has done so by means of exports.
But here’s the thing: Summers really is a formidable debater. He met Krugman’s gridlock argument head-on, saying that Barack Obama’s legislative achievements in 2009-10 were greater than those in any two year period since 1965-66, or possibly even 1933-34. And in his concluding remarks, he declared that “things are never as bad as you think they are when things are bad”, adding optimistically — and accurately — that in politics, “the transition from inconceivable to inevitable can be very rapid”. Summers’s optimistic sentiment went down well with the well-heeled Toronto crowd: people who are wealthy and healthy and happy, like the Munk Debate audience, tend to be attracted to arguments saying that there’s no need to feel guilty or fearful.
And so, in the end, host Rudyard Griffiths declared a “technical victory” for Summers and Bremmer. They didn’t win a majority of the votes — in fact, they were beaten by Krugman and Rosenberg, 45% to 55%. But Krugman and Rosenberg started the debate with 55% support, while Summers and Bremmer started with just 25%: basically, the undecideds all plumped for Summers over Krugman.
As for me, I entered the debate torn, and I exited it that way as well. There’s something very un-American about doom-mongering, and it’s fair to say that any given economist, at any given point in time, is more likely to be wrong than right. In order for Krugman to be right, he has to be right — right in his analysis, and right in forecasting what the macroeconomic implications of that analysis might be. But the Krugman-Rosenberg teams couldn’t even agree on the analysis: while Krugman was convinced that a bunch of borrowing and spending would fix what ails the economy, Rosenberg was convinced that we’re at the beginning of a massive deleveraging and that you can’t fix an over-indebted economy by piling even more debt onto it.
Krugman is certainly outside the economic consensus, and while that doesn’t mean he’s wrong, it’s certainly prima facie reason to be skeptical about his analysis. Besides, Krugman’s been so pessimistic for so long, now, that it’s almost impossible to imagine what kind of evidence could get him to change his mind and declare that we’re not headed for a lost decade after all. Summers, by contrast, doesn’t think in forecasts so much as in probability distributions — a much less constricting way of thinking.
So, do I think that North America faces a Japan-style era of high unemployment and slow growth? I’ll agree with Summers and Krugman on this one: yes, it does. Will it manage to do what’s necessary to avoid that fate? That’s something no one can know with any certainty. But life’s certainly a lot easier if you believe that it will.


Full video here:  The Munk Debate


Watch live streaming video from munkdebates at livestream.com

Thursday, November 10, 2011

Roubini: Goodbye China, hello Indonesia


If economist Nouriel Roubini was a betting man, he’d  be cashing out of China and doubling down on Indonesia.

On his first trip to south-east Asia’s largest economy, Roubini argued the case for countries with growth models like Indonesia, where nearly two-thirds of GDP is domestic consumption, rather than China, at roughly one third and, as he has previously warned, “could be headed toward a hard landing.”

Indonesia has low inflation, low debt (at about 26 per cent of GDP), young demographics and accelerating growth. China he said, is slowing and has a debt-to-GDP ratio of closer to 80 per cent (though China’s official figure is just 18 per cent).

“Some countries in the region are better positioned for long-term, even growth – countries like Indonesia or India, with 50 – 60 per cent of GDP coming from domestic consumption,” he said.

Indonesia learned a hard lesson during the 1997-1998 financial crisis, when GDP shrank 13 per cent in a year, capital flooded out and the rupiah collapsed. Now, along with most of its south-east Asian neighbours, it has built up “massive reserves” and is in healthy shape.

On the other hand, ”China needs to move away from the growth model and find balanced growth of the other emerging markets, like Indonesia, India and Brazil,” he said.
“It is the time of rising power of the emerging markets and emerging Asia is the fastest growing region in the world. Indonesia is a country that can be very important in the global economy. By the end of the decade it will be the 10th largest economy and by 2030, it could be the 6th.”

So you see, Dr Doom isn’t gloomy about everything.

Tuesday, November 8, 2011

Bốn quốc gia - Bốn bài học


Các nhà hoạch định chính sách kinh tế học được gì từ những thất bại của Pháp, Hy Lạp, Nhật Bản và Zimbabwe?


Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt một loạt khó khăn như hiện nay, các chính trị gia và học giả tranh luận quyết liệt về việc phải làm gì tiếp theo để hóa giải thách thức. Nhưng trên thế giới, hiện rất khó có thể tìm được những hình mẫu kinh tế được đánh giá tích cực.

Mặc dù vậy, theo bài viết của Giáo sư kinh tế học Gregory Mankiw thuộc Đại học Harvard đăng tải trên tờ New York Times, trong lịch sử gần đây đã tồn tại những bài học kinh tế từ một số quốc gia mà không một nước nào muốn “đi vào vết xe đổ”, trong đó tiêu biểu là lạm phát ở Zimbabwe, nợ công ở Hy Lạp, giảm phát ở Nhật, và thuế cao ở  Pháp.

Giáo sư Mankiw cho rằng, ở mỗi quốc gia trong số này, các nhà hoạch định chính sách đã vấp phải một kiểu sai lầm chính sách mà chỉ cần sơ ý một chút là dẫn đến hậu quả “chết người”. Giáo sư này khuyến nghị, nước Mỹ cần thuộc lòng những bài học này, vì chính sách kinh tế Mỹ hiện nay có không ít điểm “na ná” chính sách sai lầm mà các quốc gia trên từng áp dụng.

Đối với trường hợp Zimbabwe, nếu có một giải thưởng nào đó dành cho chính sách kinh tế tệ hại nhất thế giới, quốc gia này có lẽ đã nhiều lần “giật giải” trong thập kỷ qua. Đặc biệt, vào năm 2008 và 2009, Zimbabwe đã lâm vào cảnh siêu lạm phát. Giá cả khi đó ở quốc gia châu Phi này tăng với tốc độ kinh hoàng đến nỗi, Ngân hàng Trung ương Zimbabwe phải in ra loại tiền mệnh giá 1 nghìn tỷ Đôla để thuận lợi hơn cho việc thanh toán. Sau đó, Zimbabwe đã ngừng sử dụng đồng nội tệ, nhưng những đồng tiền mệnh giá “khủng” của quốc gia này hiện vẫn có thể mua được với giá khoảng 5 USD.

Theo Giáo sư Mankiw, thật khó có thể hình dung kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng lạm phát như Zimbabwe từng trải qua. Tuy nhiên, việc in tiền thiếu kiểm soát đang là nỗi lo của Thống đốc bang Texas, Rick Perry, người đang nuôi hy vọng trở thành ứng cử viên của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm sau của Mỹ.

Hồi tháng 8 vừa qua, ông Perry nhận định, sẽ “gần như là tội mưu phản” nếu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED) Ben Bernanke cho in quá nhiều tiền trước khi diễn ra cuộc bầu cử vào năm 2012. Không chỉ có ông Perry, nhiều chính trị gia Mỹ thuộc cánh tả cũng lo ngại chính sách gần đây của FED nhằm chống lại tỷ lệ thất nghiệp cao có thể châm ngòi cho lạm phát bùng nổ.

Tuy nhiên, ông Bernanke lại tỏ ra ít lo ngại hơn về việc biến nước Mỹ thành một “Zimbabwe thứ hai” hơn là một “Nhật Bản khác”.

Nhật Bản là một siêu cường kinh tế trải qua nhiều thăng trầm. Vào thập niên 1980, nhiều người từng lo ngại sự vươn lên mạnh mẽ của kinh tế Nhật sẽ đe dọa sự thịnh vượng của nước Mỹ, cũng giống như những gì người ta đang lo ngại ngày nay về sự nổi lên của Trung Quốc.

Tuy nhiên, những lo lắng về sức mạnh của kinh tế Nhật hồi những năm 1980 đã nhanh chóng chấm dứt khi bong bóng trên thị trường bất động sản và địa ốc của nước này nổ tung vào đầu thập niên 1990. Kể từ đó tới nay, kinh tế Nhật rơi vào tình trạng chật vật mãi chưa tìm ra lối thoát. Các nhà quan sát có thái độ chỉ trích Ngân hàng Trung ương Nhật (BoJ) cho rằng, BoJ đã tập trung quá nhiều vào việc chống những mối đe dọa lạm phát mà không quan tâm đầy đủ tới việc phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Nằm trong số những nhà phê bình này có ông Bernanke, trước khi ông trở thành Chủ tịch FED. Việc dõi theo sự thận trọng và những thất bại của người Nhật chắc chắn là một trong những lý do phía sau sự sẵn sàng của ông Bernanke trong cuộc thử nghiệm những dạng chính sách tiền tệ vào hàng “vô tiền khoáng hậu” thời hậu khủng hoảng tài chính.

Các chuyên gia kinh tế trong chính quyền của Tổng thống Barack Obama cũng nhận thức rõ về những điều tồi tệ mà kinh tế Nhật đã và đang trải qua. Đó là lý do vì sao họ đang ra sức thúc đẩy hoạt động chi tiêu để kích thích nhu cầu tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ.

Tuy nhiên, chính sách tài khóa này đi kèm với không ít rủi ro. Một kinh kinh tế Mỹ càng phụ thuộc vào hoạt động chi tiêu của Chính phủ, thì khả năng nước này rơi vào một cuộc khủng hoảng nợ công như đang diễn ra ở Hy Lạp lại càng lớn. Việc hãng định mức tín nhiệm Standard & Poor’s hạ điểm tín nhiệm Mỹ hồi tháng 8 vừa qua là một điềm báo cho những gì có thể xảy đế phía trước. Trong dài hạn, nước Mỹ cần cắt giảm nợ, hoặc đối mặt với những hậu quả không mấy dễ chịu.

Ở thời điểm hiện tại, thị trường trái phiếu dường như chưa mấy lo ngại về khả năng trả nợ của Chính phủ Mỹ. Vì thế, nước Mỹ vẫn vay được tiền vỡi lãi suất thấp. Nhưng đây cũng chính là những gì đã diễn ra đối với Hy Lạp 4 năm trước. Một khi thị trường trái phiếu thay đổi thái độ, tình thế sẽ thay đổi rất nhanh chóng, dẫn tới một vòng xoáy tăng lãi suất chóng mặt, tăng số tiền lãi phải trả và thâm hụt ngân sách, cùng với sự giảm sút niềm tin.

Nước Mỹ đang được hưởng lợi ích từ sự hoài nghi của thị trường trái phiếu, một phần vì nợ của các quốc gia khác có vẻ như rủi ro hơn, và một phần vì niềm tin rằng nước Mỹ sẽ đưa tình trạng nợ nần của mình về trật tự đúng lúc. Nhưng vấn đề chính trị lớn đặt ra là nước Mỹ sẽ làm việc này như thế nào.

Washington hiện đang đối mặt với một quyết định mang tính nền tảng về những ưu tiên kinh tế. Để duy trì mức thuế hiện nay, nước Mỹ cần giảm mạnh chi tiêu cho mạng lưới an sinh xã hội. Nếu không, nước Mỹ có thể duy trì mạng lưới an sinh hiện nay và phải tăng mạnh thuế để chi trả. Hoặc cũng có thể lựa chọn sự kết hợp giữa cắt giảm chi tiêu và tăng thuế. Mà cách làm này lại dẫn tới nguy cơ rơi vào tình huống như trong bài học từ kinh tế Pháp.

Có hai sự thật cần biết về kinh tế Pháp. Thứ nhất, GDP/đầu người của Pháp thấp hơn 29% so với của Mỹ, phần nhiều vì người Pháp có số giờ làm việc trong đời ít hơn người Mỹ. Thứ hai, người Pháp bị đánh thuế cao hơn người Mỹ. Năm 2009, thuế tương đương 24% GDP của Mỹ, nhưng tương đương 42% GDP của Pháp.

Các chuyên gia kinh tế tranh cãi nhiều về việc liệu có phải mức thuế cao ở Pháp và các quốc gai châu Âu khác là lý do khiến người lao động ở các quốc gia này giảm nỗ lực làm việc, và vì thế giảm thu nhập. Tuy nhiên, nguyên nhân lại có thể nằm ở việc người châu Âu ưa hưởng thụ cuộc sống hơn là làm việc cật lực như người Mỹ.

Đâu là lý do xác thực sẽ cần phải có thời gian để xác minh. Trong những thập kỷ tới đây, nếu các nhà hoạch định chính sách Mỹ không cắt giảm chi tiêu, họ sẽ buộc phải tăng thuế tới gần mức thuế của các nước châu Âu. Khi đó, rất có thể thế hệ người Mỹ tiếp theo sẽ làm việc ít hơn, để kiếm tiền ít hơn, và dành thời gian ngồi quán café nhiều hơn.

Theo Taichinhthegioi.net

Popular Posts