domain, domain name, premium domain name for sales

Wednesday, June 24, 2015

Ví dụ về Nil và EV

     Kết quả ở trên xuất phát từ một bảng cân đôi kế toán không có cổ phần. Những kết quả tương tự cũng áp dụng với trường hợp cổ phần khác không, nhưng đòi hỏi sự điều chỉnh. Phần tiếp theo sẽ cho thấy đây là một trường hợp đặc biệt của một công thức chung hơn.

    Với vốn, nợ thấp hơn tài sản và thu nhập lãi tăng vì lượng nợ nhỏ hơn. Trong ví dụ dưới đây, cổ phần là 100, nợ 900 và tài sản 1000 (bảng 26.6). Tất cả những giả định còn lại giữ nguyên. Chi phí nợ năm đầu tiên là 6% X 900 = 54. Sau năm đầu tiên, chi phí nợ là lãi suất không rủi ro hiện hành. Sử dụng những chênh lệch cao hơn lãi suất không rủi ro giống như trên với các khoản vay và nợ của ngân hàng, dòng tiền, NII và giá trị kinh tế thay đổi.

khoản vay và nợ


     Sự chênh lệch là 86,4, do cổ phần. Ta thây 86,4 = 100/(l+6%)3 nói cách khác chênh lệch là giá trị hiện tại của cổ phần ở kỳ hạn dài nhất. Trong thực tế, nếu ta cắt khoảng thời gian ở cuối kỳ 3, ta sẽ trả lại lượng cổ phần cho cổ đông và trừ nó khỏi EV. Giá trị kinh tế nên được tính bằng cách bổ sung dòng tiền 100, như một khoản nợ đáo hạn ở cuối khoảng thời gian chiết kháu ở lãi suất 6%. Khi đó, quan hệ giữa giá trị kinh tế và giá trị hiện tại của NII được giữ nguyên. EV bằng với giá trị chiết khâu của NII tương lai nếu ta trừ đi giá trị hiện tại của cố phần ở ngày cuối cùng của phép tính:

EV = 157,2 – 86,4 = 70,8 = Giá trị hiện tại (Nil)

    Bây giờ chúng tôi sẽ chứng minh tại sao quy tắc chung này áp dụng cho mọi tỷ lệ chiết khấu, EV và NII chiết khâu bằng nhau ứng với mọi khoảng then gian miễn là ta bổ sung khe hở thanh khoản của tài sản và nợ vào cuối khoảng thời gian.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/gia-tri-kinh-te-cua-bang-can-oi-ke-toan.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:tài sản tài chính, thanh khoản

Quan hệ giữa EV và dòng tiền

    Lý do tại sao EV và giá trị hiện tại của NII bằng nhau là EV chiết khấu những dòng tiền bao gồm tất cả vốn và lãi. Mối quan hệ giữa hai phép tính bắt nguồn từ quan hệ giữa dòng tiền bao gồm tất cả và dòng tiền lãi.

       Phân tích dòng tiền bao gồm tất cả thành dòng tiền vốn và lãi
     Theo định nghĩa, EV chiết khấu dòng tiền bao gồm tất cả, vốn và lãi. Ta có thể chia hai loại dòng tiền thành những khoảng thòi gian nhỏ. Hãy xem xét từ i-1 tới t:
Dòng tiền (vốn + lãi) (f-l,f) = dòng tiền vốn (f-l,f) + dòng tiền lãi (f-l,t)

     Dòng vốn thực trên các khoảng thời gian là khấu hao của tài sản và nợ và bằng với sự thay đổi của khe hở thanh khoản. Dòng tiền lãi thực trên những khoảng thòi gian là NIL EV là giá trị hiện tội của những dòng tiền bao gồm tất cả:
EV = Giá trị hiện tại (biên lãi tương lai) + Giá trị hiện tại (A khe hở thanh khoản)

     Giá trị hiện tại được tính ở lãi suất thị trường ứng với kỳ hạn của mỗi dòng tiền được tạo ra từ tài sản và nợ, cả vốn và lãi. Từ ví dụ trước về một bảng cân đối đơn giản hóa với cổ phần, ta thấy khe hở thanh khoản bằng với cổ phần vào ngày 3. Do đó, EV nên là giá trị hiện tại của khe hở thanh khoản đó -100 vào thời điểm 3 (với quy ước dấu của tài sản và nợ) cộng với giá trị hiện tại của NII cho cả ba giai đoạn. Có thể thấy mối quan hệ kia đúng với mọi khoảng thời gian và hổ sơ khe hở thanh khoản, ví dụ cuối cùng minh họa tính chất chung nói trên của EV và NIL

dòng tiền


       EV và Nil: một ví dụ tổng quát
    Dùng bảng cân đối kế toán giống như trên nhưng cho phép tài sản và nợ trả dần, ta sẽ thấy quan hệ trên ling với mọi khoảng thời gian. Ta sử dụng giá trị tài sản và nợ, chênh lệch, lãi suất không rủi ro ban đầu giống như trước nhưng ta bỏ giả định thanh toán toàn toàn vào ngày 3. Tha vào đó, tài sản và nợ trả dần và có một khe hở thanh khoản vào cuối kỳ 3.

    Lãi suất và chênh lệch giông như ví dụ trước (bảng 26.8). Để mang tính tổng quát, ta giả định lãi suất không rủi ro tăng từ 5% lên 6% sau kỳ đầu tiên. Tài sần mang lãi suất cố định cũng giông như nợ. Cổ phần là 100. Lãi suất tài sản cố định cho cả ba kỳ ở mức 8%, cao hơn 3% so với lãi suất không rủi ro 5%. Lãi suất nợ cố định ở mức 6% cho những số dư chưa trả. Sau đó, lãi suất không rủi ro tăng lên 6%. Những hệ số chiết khấu sử dụng lãi suất không rủi ro mới 6%.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/vi-du-ve-nil-va-ev.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:phương pháp định giá, thanh khoan

Ví dụ về giá trị hiện tại của Nil

      Hãy xem xét bảng cân đối kế toán dự kiến với tài sản và nợ khấu hao. Chú ý dòng tiền vốn đo lường sự thay đổi của khe hở thanh khoản và là những khe hở tính thanh khoản biên. Với các quy ước dấu, khấu hao tài sản là một dòng tiền vào và khấu hao nợ là dòng tiền ra.

    Dòng tiền vốn là giá trị thực của những dòng tiền ra và vào đó. Chúng giống như sự thay đổi trong khe hở tính thanh khoản (bảng 26.9). Doanh thu và chi phí lãi của kỳ t được tính từ số dư của tài sản và nợ vào thời điểm t -1 sử dụng lãi suất cố định ứng với tài sản và nợ.

     Từ các đồng vốn và dòng NII, ta tính ra giá trị hiện tại của chúng. Giá trị kinh tế là tổng của giá trị hiện tại của dòng vốn và NIL Những hệ số chiết khấu sử dụng lãi suất không rủi ro cuối cùng 6% (bảng 26.11). Cuối cùng, giá trị hiện tại của dòng tiền bao gồm tất cả cho phép tính giá trị kinh tế và giống như giá trị hiện tại của tất cả các NII và dòng vốn tới thời điểm bị ngắt (bảng 26.12).

       Giá trị hiện tại của NII là giá trị kinh tế trừ đi giá trị hiện tại của dòng vốn:
Giá trị hiện tại (Nil) = EV – Giá trị hiện tại (dòng vốn)
Giá trị hiện tại (NII) = 64,4 – (-5) = 69,4
Những quan hệ này đúng với mọi khoảng thời gian. Khi mỡ rộng khoảng thời gian thành khoảng dài nhất, ta thấy giá trị hiện tại của tất cả các NII trên những khoảng nhỏ bằng giá trị kinh tế trừ đi khe hở thanh khoản cuối cùng, bằng với cổ phần theo giá trị tuyệt đối.

dòng tiền


      Giá trị kinh tế là một biến mục tiêu của ALM vì nó tóm gọn giá trị hiện tại của NII tới mọi điểm ngắt chi trong một con số. Điều này khắc phục nhược điểm lớn của khe hở, đó là tính định kỳ Khe hở có thể dùng để phòng hộ NII của những kỳ hạn nhất định, nêu không có quyền chọn trong bảng cân đối, nhưng giá trị kinh tế là thước đo tốt hơn của dòng thu nhập lãi thực NII tới một điểm ngắt nào đó. Quản lý rủi ro của EV phải được thực hiện đổng thời với quản lý he hở vì nó áp dụng với khoảng thời gian dài hơn. Chương tiếp theo sẽ giải thích rủi ro EV có thể được phòng hộ và kiểm soát ra sao.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/quan-he-giua-ev-va-dong-tien.html


Các thức quản lý rủi ro dựa trên duration và độ lồi

   Các cách thức để quản lý rủi ro của giá trị kinh tế dựa trên duration (độ nhạy) và độ lồi của tài sản và nợ. Duration là độ nhạy hay độ dốc của biểu đồ giữa giá trị kinh tế và tỷ lệ chiết khấu, độ lồi là sự thay đổi của duration khi lãi suất thay đổi đáng kể và đo lường độ cong của biểu đổ.

     Vì giá trị kinh tế phụ thuộc vào giá trị tài sản và nợ, nó cũng phụ thuộc vào biểu đồ. của giá trị tài sản và giá trị nợ so với lãi suất. Do đó, giá trị kinh tế phụ thuộc vào duration và độ lồi tương đối của tài sản và nợ. Hơn nữa, độ lồi tăng khi có quyền chọn. Điều này dẫn tới đo lường rủi ro quyền chọn thông qua hiệu giữa quyền chọn ẩn và phòng hộ quyền chọn. Duration rủi ro thường được gọi là rủi ro delta và rủi ro độ lồi là rủi ro gamma, theo những thuật ngữ thông thường cho quyền chọn.

      Phần đầu tiên của chương này nói về các tính chất của duration, điều kiện của khe hở duration để giá trị kinh tế không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi nhỏ trong lãi suất, và làm thế nào để đạt được những điều kiện đó với công cụ phái sinh. Khi lãi suất có biến động mạnh, hiệu ứng độ lồi là không thể bỏ qua. Do đó, phần thứ hai của chương này sẽ nói về các tính chất của độ lồi, điều kiện của độ lồi của tài sản và nợ để bảo vệ giá trị kinh tế khi lãi suất biến động và làm thế nào để đạt được kết quả nhờ phái sinh. Hiệu ứng độ lồi tổn tại khi lãi suất có khả năng thay đổi lớn.

duration


      Chúng có thể xuất hiện khi có quyền chọn vì quyền chọn làm phóng đại độ lồi. Một phẩn của chương sẽ xử lý rủi ro quyền chọn và khe hở quyền chọn. Khi tất cả các hiệu ứng đã được giải thích, ta sẽ thấy khe hở lãi suất không đủ để quản lý rủi ro lãi suất. Ta cần phải kết hợp với rủi ro duration, rủi ro độ lồi và rủi ro quyền chọn để tránh những ảnh hưởng tiêu cực lên giá trị kinh tế của bảng cân đối kế toán.



Đọc thêm tại:


Các tính chất của độ lồi

   Với các tài sản lãi suất cố định/ giá trị kinh tế thay đổi tỷ lệ nghịch với lãi suất vì giá trị chiết khấu những dòng tiền tương lai với lãi suất thị trường thay đổi. Quan hệ này không tuyến tính.

    Giá trị thị trường là dòng tiền chiết khấu (DCF) của tất cả các dòng tiền hợp đồng và liên hệ nghịch đảo với dịch chuyển song song của lãi suất. Độ cong của đổ thị hướng lên trên (hình 27.1). Với những tài sản lãi suất thả nổi, giá trị hiện tại của dòng tiền là phẳng và duration bằng 0.Trong phần tiếp theo, ta dùng cụm từ tổng quát “duration” để chỉ độ nhạy. Công thức độ nhạy cùa giá trị thị trường với lãi suất y là:

AV/V = -DAy

   Thay đổi tương đối trong giá trị, tính theo phần trăm, bằng duration đã chỉnh D/(i+y) nhân với thay đổi lãi suất phần trăm tuyệt đối. Độ nhạy là sự thay đối của giá trị tài sản phát sinh từ thay đổi lãi suất. Giá trị này bằng với giá trị thị trường của tài sản nhân với duration đã chinh và thay đổi lãi suất:

AF = – [D/(l + y)]FAy


     Duration của một danh mục đầu tư là bình quân các duration của tài sản với trọng số bằng giá trị thị trường cùa chúng. Tính chất này làm cho duration của danh mục đẩu tư chỉ đơn giản là hàm số của các duration của những thành phần riêng lẻ.

Dòng tiền


     Duration có một số tính chất quan trọng. Duration là một phép đo “cục bộ”. Khi lãi suất thay đổi, duration cũng dịch chuyển. Do đó khi lãi suất có những thay đổi lớn, không thể coi duration là cố định được nữa, duration mất đi sự tiện lợi. Duration cũng thay đổi với thời gian. Nó tăng với kỳ hạn, nhưng ít hơn tỷ lệ thuận. Khi thời gian trôi đi từ t tới t +1, kỳ hạn còn lại của tài sản giảm đi 1. Nhưng duration giảm đi ít hon 1 vì độ lồi. Nếu duration là 2 năm ngày hôm nay, sau một năm, duration sẽ dài hơn một năm vì nó giảm ít hơn kỳ hạn còn lại. Đây gọi là “độ trôi duration” với thời gian.

      Do “độ trôi duration”, bất kỳ giới hạn nào của duration áp dụng cho một ngày nhất định cũng không có giá trị nữa sau một thời gian vì thay đổi lãi suất và độ trôi thời gian.Thu nhập của một tài sản tính trên một khoảng thời gian bằng duration không bị ảnh hưởng bởi thay đổi lãi suất. Với những tài sản lãi suất cố định, tính toán lợi nhuận-tới- đáo hạn đòi hỏi phải nắm giữ tài sản tới ngày đáo hạn. Khi bán tài sản trước đáo hạn, thu nhập là không chắc chắn vì giá vào ngày bán là chưa biết. Giá này phụ thuộc vào lãi suất hiện hành vào ngày đó. Nêu lãi suất tăng, giá giảm và ngược lại. Thu nhập của giai đoạn nắm giữ cộng với lợi nhuận hiện tại (lãi được trả) và thăng dư hay thua lỗ vốn vào cuối kỳ.

     Tổng thu nhập từ việc nắm giữ một tài sản tùy vào việc sử dụng những dòng tiền lãi trung gian. Thu nhập trên bất kỳ khoảng thời gian trung gian nào xuất phát từ thặng dư hoặc thua lỗ vốn, cộng với tiền trả lãi và tiền thu từ việc tái đầu tư những dòng tiền trung gian. Nếu lai suất tăng trong giai đoạn nắm giữ, sẽ bị thua lỗ vốn do giá giảm. Đổng then, dòng tiền trung gian có lợi từ lãi suất đầu tư cao hơn. Nêu lãi suất giảm, sẽ có thặng dư vốn vào cuối kỳ.

       Đồng thời, những lãi suất tái đầu tư trung gian giảm. Hai hiệu ứng này bù trừ lẫn nhau. Có một khoảng thòi gian sao cho hiệu ứng của tái đẩu tư cộng với thặng dư hoặc thua lỗ vốn loại trừ lẫn nhau. Nêu điều này xảy ra, giá trị tương lai vào cuối giai đoạn không bị ánh hưởng bởi thay đổi lãi suất. Giai đoạn này được gọi là duration của tài sản.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/cac-thuc-quan-ly-rui-ro-dua-tren.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:bao cao tai chinh ngan hang, thanh khoản

Giá trị kinh tế của bảng cân đối kế toán

      Chương này định nghĩa giá trị kinh tế (EV) và những lý do nó là một biến mục tiêu của ALM. Về bản chất, giá trị kinh tế là giá trị thực, hiện tại của dòng tiền tài sản và dòng tiền nợ. Giá trị kinh tế xem xét giá trị của quyền chọn ẩn trong tài sản và nợ, trong khi các khe hở không tính tới những yêu tố này. Một tính chất chung của giá trị kinh tế là nó liên hệ rất đơn giản với giá trị hiện tại của toàn bộ thu nhập lãi thực (NII) của ngân hàng cho tới kỳ hạn dài nhất.

     Do đó, giá trị kinh tế phản ánh tính lợi nhuận trong tương lai dài hạn, trong khi NII chỉ phản ánh được một thời gian ngắn hạn một hoặc hai năm. Cả hai cách nhìn về tính lợi nhuận đều cẩn thiết và cả hai biến mục tiêu đều có rủi ro. Ngân hàng nên kiểm soát rủi ro đó. Quan hệ giữa EV và NII tương lai được trình bày bằng cách phân tích những dòng tiền bao gồm tất cả tạo ra từ bảng cần đối kế toán thành dòng tiền vốn và dòng tiền lãi.

giá trị kinh tế (EV)


      Chúng tôi trình bày phép tính giá trị kinh tế trong phần 26.1. Để giá trị kinh tế có những tính chất như trên, chúng ta cần dùng tỷ lệ chiết khâu là lài suất không rủi ro, cho phép đánh giá chênh lệch rủi ro giữa các lãi suất vay và lãi suất tiền ký gửi. Bước tiếp theo là một ví dụ bảng cân đối kế toán đơn giản, tính toán giá trị kinh tế từ các dòng tiền và NII định kỳ từ chênh lệch với lãi suất không rủi ro. Dòng tiền độc lập với các lãi suất hiện hành khi cân nhắc tài sản và nợ lãi suất cố định. Phép tính NII phụ thuộc vào lãi suất khi ta mở rộng khoảng thời gian dài hơn kỳ hạn của tài sản và nợ.

      Quá trình cho phép so sánh giá trị hiện tại của dòng tiền với giá trị hiện tại của NII định kỳ phỏng đoán trong khoảng thời gian dài nhất (chiết khâu cả hai ớ cùng tỷ lệ). Bước cuối cùng tổng quát hóa kết quả bằng cách chọn bất kỳ khoảng thời gian nào và xử lý như trên. Trong cả hai trường hợp, ta thây giá trị kinh tế bằng với giá trị của NII được điều chỉnh cho những thay đổi lãi suất. Phần 26.4 giải thích tại sao tính chất đó thường đúng.

Chương tiếp theo xử lý quản lý rủi ro lãi suất của EV, thay vì thu nhập lãi là biến mục tiêu của ALM. Vì mục đích này, những khe hở kỳ hạn bình quân (duration) thay thế cho khe hờ lãi suất.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/ev-va-thu-nhap-lai-du-kien-o-lai-suat.html


Tuesday, June 23, 2015

Quan hệ giữa EV và NII

      Chương này định nghĩa giá trị kinh tế (EV) và những lý do nó là một biến mục tiêu của ALM. Về bản chất, giá trị kinh tế là giá trị thực, hiện tại của dòng tiền tài sản và dòng tiền nợ. Giá trị kinh tế xem xét giá trị của quyền chọn ẩn trong tài sản và nợ, trong khi các khe hở không tính tới những yêu tố này. Một tính chất chung của giá trị kinh tế là nó liên hệ rất đơn giản với giá trị hiện tại của toàn bộ thu nhập lãi thực (NII) của ngân hàng cho tới kỳ hạn dài nhất.

     Do đó, giá trị kinh tế phản ánh tính lợi nhuận trong tương lai dài hạn, trong khi NII chỉ phản ánh được một thời gian ngắn hạn một hoặc hai năm. Cả hai cách nhìn về tính lợi nhuận đều cẩn thiết và cả hai biến mục tiêu đều có rủi ro. Ngân hàng nên kiểm soát rủi ro đó. Quan hệ giữa EV và NII tương lai được trình bày bằng cách phân tích những dòng tiền bao gồm tất cả tạo ra từ bảng cần đối kế toán thành dòng tiền vốn và dòng tiền lãi.

giá trị kinh tế (EV)


      Chúng tôi trình bày phép tính giá trị kinh tế trong phần 26.1. Để giá trị kinh tế có những tính chất như trên, chúng ta cần dùng tỷ lệ chiết khâu là lài suất không rủi ro, cho phép đánh giá chênh lệch rủi ro giữa các lãi suất vay và lãi suất tiền ký gửi. Bước tiếp theo là một ví dụ bảng cân đối kế toán đơn giản, tính toán giá trị kinh tế từ các dòng tiền và NII định kỳ từ chênh lệch với lãi suất không rủi ro. Dòng tiền độc lập với các lãi suất hiện hành khi cân nhắc tài sản và nợ lãi suất cố định. Phép tính NII phụ thuộc vào lãi suất khi ta mở rộng khoảng thời gian dài hơn kỳ hạn của tài sản và nợ.

      Quá trình cho phép so sánh giá trị hiện tại của dòng tiền với giá trị hiện tại của NII định kỳ phỏng đoán trong khoảng thời gian dài nhất (chiết khâu cả hai ớ cùng tỷ lệ). Bước cuối cùng tổng quát hóa kết quả bằng cách chọn bất kỳ khoảng thời gian nào và xử lý như trên. Trong cả hai trường hợp, ta thây giá trị kinh tế bằng với giá trị của NII được điều chỉnh cho những thay đổi lãi suất. Phần 26.4 giải thích tại sao tính chất đó thường đúng.

Chương tiếp theo xử lý quản lý rủi ro lãi suất của EV, thay vì thu nhập lãi là biến mục tiêu của ALM. Vì mục đích này, những khe hở kỳ hạn bình quân (duration) thay thế cho khe hờ lãi suất.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/chenh-lech-ieu-chinh-theo-quyen-chon.html


Popular Posts