domain, domain name, premium domain name for sales

Monday, April 20, 2015

Tính thanh khoản là gì? quản lý thanh khoản

       Tính thanh khoản là gì là thuật ngữ kinh doanh để mô tả khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán hàng hóa nào đó trên thị trường mà không bị ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả.

        Rủi ro thanh khoản tồn tại khi có thâm hụt. Quản lý đòi hỏi phân bố khoản vốn cần thiết trong khoảng thời gian, và tránh những nhu cầu huy động vốn quan trọng không đoán trước. Thường thì, những giới hạn được đặt ra cho khe hở thanh khoản để đảm bảo huy động vốn vẫn nằm trong giới hạn chấp nhận được.


Tính thanh khoản là gì? quản lý thanh khoản

Tính thanh khoản là gì? quản lý thanh khoản



      Quản lý tính thanh khoản hướng tới một khe hở mục tiêu sau khi đã huy động thêm vốn, để tuân theo những giới hạn khe hở thanh khoản. Những giới hạn đó tùy vào lượng vốn có thể huy động định kỳ không gây ra vấn đề.




      Tính thanh khoản tối thiểu phải huy động là khoản sẽ xóa bỏ khe hở vào thời điểm i+1 và tất cả những thời điểm tương lai cho tới hết khoảng thời gian quản lý. Quản lý chủ động của ngân quỹ thường từ 1 tới 2 năm. Ngoài khoảng thơi gian đó, ngân hàng nên theo dõi khe hở để đảm bảo khe hở không vượt cao quá giới hạn.


       Ở đây, ta chỉ tập trung vào ngắn hạn. Tiền mặt huy động hôm nay để bù cho khe hở hiện tại có thể được huy động bằng nhiều cách, tùy vào cấu trúc kỳ hạn của nợ. Quyết định cấp vốn sẽ làm thay đổi hoàn toàn khấu hao nợ.


       Dưới đây là hai ví dụ hồ sơ tài sản và nợ với thâm hụt ban đầu. Trong cả hai trường hợp, nguồn tiền mặt sụt giá nhanh hơn tài sản và thâm hụt được duy trì trong một khoảng thời gian ngắn.


       Chúng ta giả định là ALM muốn tăng nguồn tiền mặt bằng với tài sản bởi vì kỳ vọng về lãi suất đã thay đổi hoặc để giảm những yêu cầu tính thanh khoản trong tương lai. Vấn đề là phải xác định cấu trúc của những nợ mới thống nhất với mục tiêu mới. Nguồn tiền mặt mục tiêu nên bằng tài sản.


      Quá trình bắt đầu từ điểm cuối khoảng thời gian và đòi hỏi việc đi ngược lại để tìm ra cần những khoản nợ nào. Người thủ quỹ sau đó “xếp lớp các khoản nợ bắt đầu từ ngày cuối cùng để tăng nợ tới khi bằng tài sản”.

Vay, cho vay và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất

     Có thể giới thiệu rủi ro lãi suất dễ dàng hơn bằng cách bắt đầu với biểu đồ lợi nhuận, thưởng có hướng đi lên. Những vấn đề cơ bản của người vay/cho vay đã xác định được một khung thời gian là:


- Với người cho vay: cho vay dài hay ngắn hạn? có gia hạn khoản nợ?


- Với người đi vay: đi vay dài hay ngắn hạn? có gia hạn khoản nợ?


     Khi người đi vay/cho vay dùng những ngày đáo hạn khác với khung thời gian thực cho việc vay mượn, họ gặp rủi ro lệch hạn. Ví dụ, người cho vay hai năm đi vay 1 năm và gia hạn việc cho mượn ngắn hạn này cho tới khi hết khung thời gian 2 năm sẽ gặp rủi ro lãi suấtcó thể giảm trong năm thứ hai.


Vay, cho vay và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất



     Với những ngân hàng cho vay và đi vay, duy trì lệch kỳ hạn (đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn) cho phép lợi dụng chênh lệch giữa lãi suất dài và ngắn hạn. Tuy nhiên, lệchhạn có thể tiềm tàng rủi ro lãi suất và rủi ro tính thanh khoản. Đây là tình trạng khá phổ biến của một ngân hàng thương mại. Kỳ hạn nợ ngắn bắt nguồn từ những người ký gửi, thưởng có kỳ hạn hợp đồng ngắn nhưng kỳ hạn thật sự dài hơn. Nó cũng có thể bắt nguồn từ nợ tài chính ngắn hạn. Đây gọi là “vị thế cấu trúc” của ngân hàng thương mại


     Vị thế này hợp lý về mặt kinh tế miễn là lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn. Vị thế này cũng mạo hiểm vì lãi suất ngắn hạn có thể vượt lãi suất dài hạn, hoặc cao hơn lãi suất cho vay lịch sử của ngân hàng. Trong cả hai trường hợp, chênh lệch trở thành số âm. Trường hợp đầu tiên có thể xảy ra nếu biểu đồ lãi suấtcho vay lịch sử có thể thấp hơn lãi suất ngắn hạn hiện thời. Khi lãi suất dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn, biểu đổ bị đảo ngược. Đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn tạo ra một chênh lệch âm. Cho vay ngắn hạn và đi vay đài hạn sẽ tạo ra chênh lệch dương.


     Những điều này xuất hiện trong sự sụp đổ của ngành công nghiệp ngân hàng vào thập kỷ 1970. Chính sách tiền tệ trở nên gắt gao hơn để chống lại nạn lạm phát hai chữ số. Lãi suất ngắn hạn tăng lên cao hơn 15% và lãi suất cho vay thấp hơn. Điều này gây ra sự thua lỗ làm suy giảm khả năng thanh toán của rất nhiều tổ chức tiết kiệm và cho vay.


     Lệch hạn giữa tài sản và nợ tiềm tàng một rủi ro tính thanh khoản khi các khoản nợ có kỳ hạn ngắn hơn tài sản. Những rủi ro tính thanh khoản đó trở thành sự thật với nhũng hậu quả kinh hoàng với hệ thống tài chính trong cuộc khủng hoảng 2007-2008, khi thị trường thanh khoản ngắn hạn cạn kiệt đột ngột. Cả thị trường tài chính ngắn hạn và vay mượn giữa các ngân hàng bị đóng băng, khiến cho các ngân hàng suy giảm tính thanh khoản phải mượn những khoản tiền khổng lồ từ ngân hàng trung ương và không dám mở rộng tín dụng vì sợ mất tính thanh khoản.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: rủi ro tài chính, khủng hoảng tài chính

Định giá và rủi ro, lợi nhuận của hợp đồng quyền chọn

Rủi ro và lợi nhuận của hợp đng quyn chọn


     Chúng ta tiếp tục với ví dụ người mua quyển chọn nói trên. Nhà đầu tư đầu tư vào quyền chọn mua. Nếu quyền chọn “không có lời” thì lợi ích bằng 0. Nhà đầu tư mất khoản đầu tư với chi phí 5. Khi quyền chọn có lời, người nắm giữ quyền chọn thực hiện lựa chọn: mua với giá 100 và bán với giá 120, tạo ra lợi ích tổng 20 và lợi ích ròng 15. Lợi nhuận là 15/5<300%.


     Thua lỗ cũng có thể là 100% lượng tiền đầu tư nếu vào ngày đáo hạn quyền chọn “không có lời”. Thu nhập cao hơn nhiều so với thu nhập cổ phiếu. Trong trường hợp thu nhập cổ phiếu là 20%, thu nhập quyền chọn mua là 300%. Do đó, quyền chọn được gọi là những công cụ “đòn bẩy”: chúng “đòn bẩy” thu nhập đối với tài sản cơ sở, nhưng cái giá phải trả là có thể thua lỗ 100%. Nắm giữ cố phiếu có thể tạo ra thu nhập thấp hơn, chỉ 20% nhưng nguy cơ mất hoàn toàn giá trị cổ phiếu là Tấtnhờ.


     Chúng ta tóm tắt so sánh đầu tư vào cổ phiếu số tiền 100 và đầu tư lượng tiền đó vào quyền chọn mua, với những số liệu như trên. Bởi vì chi phí của quyền chọn là 5, nhà đầu tư sẽ mua 20 quyền chọn, mỗi cái tạo ra quyền lợi mua một cổ phiếu với giá 100, trong khi số tiền 100 cho phép đầu tư vào 1 cổ phiếu duy nhất.




Định giá và rủi ro, lợi nhuận của hợp đồng quyền chọn




Định giá quyền chọn Giá trị quyền chọn phụ thuộc vào


- Giá thực hiện K


- Giá giao ngay của tài sản cơ sở So


- Sự bất ổn giá của tài sản này, đo bởi tính hay thay đổi


- Ngày đáo hạn T


- Lãi suất không rủi ro r


     Định giá quyền chọn phụ thuộc vào mô hình định giá. Một mô hình nổi tiếng là Black- Scholes với những công thức định giá cho một quyền chọn mua c và quyền chọn bán.


     Với công thức định giá, chúng ta có thể minh họa giá của các quyển chọn thông qua một ví dụ. Làm thế nào để đảm bảo là lợi nhuận cổ phiếu sẽ vượt qua đầu tư không rủi ro của trái phiếu trong thời gian 10 năm? Chi phí là bao nhiêu? Chúng ta sử dụng lãi suất không rủi ro là 4% và tính hay thay đổi 15% hàng năm.


     Đảm bảo này tương đương với một quyền chọn bán cho phép bán danh mục đầu tư cổ phiếu với giá trị hiện tại là 1000 với giá * 1000 (1+4%)10 * 1480 sau 10 năm. Điều này tương đương với một quyền chọn bán cổ phiếu, thời gian đáo hạn 10 năm với giá thực hiện là 1480. Giá trị lý thuyết của một quyền chọn bán ứng với những đặc điểm đó là 170, nghĩa là 17% tổng giá trị đầu tư. Chú ý tuy nhiên, quyền chọn bán có giá thấp hơn vì chúng có thời gian đáo hạn ngắn hơn, ví dụ như một năm.


Tài sản cơ sở của quyền chọn


     Hợp đồng giao sau và hợp đồng quyền chọn có thể áp dụng với:


- Hàng hóa


- Những tài sản có lãi suất như trái phiêu hoặc tín phiếu


- Tỷ giá hối đoái


     Đối với quyền chọn, chúng ta đã sử dụng phương pháp cổ điển, coi chúng như những công cụ có hướng, nghĩa là đánh cược vào một xu hướng. Quyền chọn cũng được coi là những công cụ có độ biến động, vì chúng đánh cược vào sự bất ổn của những tài sản cơ sở. Theo những công thức định giá, giá của quyền chọn tăng lên với độ biến động. Không có gì khó hiểu là độ biến động càng cao thì khả năng một quyền chọn có lãi trước ngày đáo hạn càng cao. Những người giao dịch coi chúng như những công cụ độ biên động- Họ đánh cược liệu tính bất ổn đó được đánh giá quá cao hay quá thấp trong những quyền chọn. Ví dụ, độ biến động của thị trưởng thường thấp hơn vào cuối năm, trong đợt nghỉ lễ. Những trương hợp đó là quyền chọn định giá độ biến động quá cao. Do đó sẽ hợp lý khi bán quyền chọn và mua lại chúng khi giá giảm khi độ biên động giảm. Dĩ nhiên, đây là một loại hình giao dịch phán đoán




Từ khóa tìm kiếm nhiều: rủi ro tài chính, rủi ro tín dụng

Lợi ích và người bán hợp đồng quyền chọn

Lợi ích hợp đổng quyền chọn

     Biểu đổ lợi ích của hợp đổng quyền chọn biểu diễn tổng doanh thu và doanh thu ròng từ những giao dịch mua bán trong tương lai tùy thuộc vào giá cổ phiếu cơ sở. Quyền chọn bán được gọi là có lời (“in-the-money”) khi tạo ra tổng lợi ích dương, hoặc không có lời (“out-of-the-money”) nêu tổng lợi ích bằng không, và hòa vốn (“at- the-money”) nếu giá thực hiện đúng bằng với giá cổ phiếu hiện tại.

     Quyền chọn mua được gọi là có lời nếu tổng lợi ích là số dương, không có lời nêu tổng lợi ích là không, và hòa vốn nếu giá thực hiện đúng bằng với giá cổ phiếu hiện tại. Lợi ích ròng thấp hơn tổng lợi ích một khoản bằng phí bảo hiểm.


Lợi ích và người bán hợp đồng quyền chọn



Người bán hợp đồng quyền chọn

     Người bán hợp đồng quyền chọn, không giống như người mua hợp đồng quyền chọncó nghĩa vụ giữ cam kết với người mua. Người bán quyền chọn mua đối với cổ phiếu sẽ có nghĩa vụ bán cổ phiếu với giá thực hiện nếu người mua thực hiện hợp đồng. Người bán quyền chọn bán đối với cổ phiếu có nghĩa vụ mua cổ phiếu đó với giá thực hiện nếu người mua thực hiện hợp đồng.

     Người bán, hay người viết quyền chọn mua, có nghĩa vụ phải trả khoản chênh lệch giữa giá cổ phiếu và giá thực hiện khi quyền chọn mua có lời, có thể là một khoản lớn. Khoản lợi ích là hình ảnh phản chiếu của tiền lãi của người mua:

     Lợi ích với người bán quyền chọn mua =  maximum (giá cổ phiếu – giá thực hiện = 0)

     Người bán hay ngườiviếtcủa quyền chọn bán có nghĩa vụ trả cho người mua khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá cổ phiếu, nêu quyền chọn bán có lời, có khả năng cao tương đương với giá thực hiện. Lợi ích là hình ảnh phản chiếu của tiền lời của người mua:

     Lợi ích với người bán quyền chọn bán = – maximum (giá thực hiện – giá cổ phiếu)

     Người bán hợp đồng quyền chọn là các ngân hàng. Họ thu được phí bảo hiểm nhưng họ cũng phải bảo vệ mình khỏi những khoản thua lỗ nếu như người mua có lời. Để làm điều đó, họ dùng một kỹ thuật gọi là phòng ngừa rủi ro-delta. Delta của một quyền chọn là sự thay đổi giá trị của quyền chọn khi giá tài sản cơ sở thay đổi.

     Delta thay đổi khi giá của tài sản cơ sở thay đổi. Điều này xuất phát từ vết “gẫy” trong lợi ích. Giá trị quyền chọn luôn cao hơn khoản lợi ích bởi vì bất kỳ lúc nào trước ngày đáo hạn, vẫn có khả năng là quyền chọn sẽ có lời. Do đó, giá của quyền chọn là một đường cong giống như đối với quyền chọn mua. Chênh lệch giữa giá và giá thực hiện được gọi là giá trị thời gian của quyền chọn. Delta là độ dốc của đường cong, nằm giữa số 0 (không có lời) và 1 khi quyền chọn mua rất có lời. Nó thay đổi vì đường cong có độ lồi. Do có độ lồi, quyền chọn được gọi là công cụ phi tuyến tính.

     Nguyên tắc cơ sở của phòng hộ delta khá đơn giản. Người bán quyền chọn mua mất tiền khi quyền chọn có lời. Nếu quyền chọn có delta bằng 0.8 sự giá cổ phiếu thay đổi 1 sẽ dẫn tới giá quyền chọn thay đổi 0,8. Nếu giá cổ phiêu tiếp tục tăng thì giá trị quyền chọn mua cũng tăng và nó tạo ra sự thua lỗ cho người bán quyền chọn. Người bản có thể đền bù cho mất mát này bằng cách sử dụng thế trưởng vị đối với cổ phiếu. Giả sử giá cổ phiếu là s=120 và giá thực hiện là 100, delta là 0,9 và một quyền chọn cho quyền mua một cổ phiếu duy nhất. Bán quyền chọn mua và giữ cổ phiếu sẽ khiến cho thay đổigiá tri danh mục đẩu tư bằng không. Chú ý là phòng hộ delta rất linh động vì delta thay đổi khi tài sản cơ sở thay đổi. Đây là ứng dụng quy tắc sao chép: người giao dịch sao chép trưởng vị đối vài quyền chọn mua bằng cách kết hợp quyền chọn mua vớimột trưởng vị.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: khủng hoảng tài chính, rủi ro tín dụng

Hợp đồng quyền chọn cho phép phòng ngừa rủi ro

     Hợp đổng quyền chọn thường được coi như những công cụ định hướng, cho phép phòng ngừa rủi ro trong một xu hướng nhất định. Ví dụ, một nhà đầu tư vào cổ phiếu lo ngại tỷ giá cổ phần sẽ giảm. Nhà đầu tư mua một quyền chọn bán đối với cổ phiếu từ một người bán, ví dụ như ngân hàng, nhà đầu tư có được sự bảo vệ hay bảo hiểm trong trường hợp giá cổ phiếu giảm.

     Người mua quyền chọn bán có quyền bán cổ phiếu ở một giá định trước, giá thực hiện, nếu giá cổ phiếu tụt xuống thấp hơn giá tối thiểu được đảm bảo. Nếu giá cổ phiếu vẫn cao hơn giá tối thiểu được đảm bảo, người mua đã trả chi phí bào hiểm. Người bán quyền chọn bán (một ngân hàng) có nghĩa vụ trả sự chênh lệch giữa giá thực hiện và giá giao ngay khi đáo hạn nêu giá giao ngay thấp hơn giá thực hiện.


Hợp đồng quyền chọn cho phép phòng ngừa rủi ro



     Đây là một ví dụ về quyền chọn bán đối với cổ phiêu:


  • Cổ phiếu X: giá trị hiện tại = 100

  • Giá thực hiện của hợp đồng quyền chọn = 100

  • Hạn thanh toán: 1 năm

  • Phí quyền chọn: 5

     Một quyền chọn bán cho phép hưởng lợi từ cả hai tình huống. Nếu giá cổ phiếu tăng, người mua quyền chọn bán được hưởng lợi khi cổ phiếu có triển vọng tăng trong khi vẫn được bảo vệ nếu có triển vọng giảm.

     Khi giá cổ phiếu giảm, quyền chọn bán trả khoản chênh lệch giữa giá thực hiện và giá cổ phiếu, đây là con số dương. Người mua quyền chọn bán có lợi. Khi giá cổ phiếu tăng, thiệt hại chi là phí hợp đồng (trong trường hợp này là 5). Ví dụ, nếu giá cổ phiếu giảm xuống 80, người mua quyền chọn bán bán với giá 100, lãi 20. Tuy nhiên, lợi ích này là tổng doanh thu. Lợi nhuận ròng, bỏ qua chiết khấu, phải trừ phí 5, còn lại 15. Quyển chọn bán cung cấp bảo hiểm trong trường hợp giảm giá, và tốn phí hợp đồng bảo hiểm.

     Quyển chọn mua có đặc điểm đối xứng. Người mua mua quyền lợi mua một giá cố địnhbằng giá thực hiện. Nêu giá cổ phiếu tăng lên 120, lợi nhuận là 120-100=20. Lợi nhuận ròng là 20-5=15. Nếu giá cổ phiếu giảm xuống 105, hợp đồng quyền chọn là vô giá trị vì thu nhập từ việc bán cổ phiếu với giá 105 đúng bằng với phí hợp đồng. Nếu giá cổ phiếu giảm xuống thấp hơn 105, người mua quyền chọn mua sẽ bị thua lỗ.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: các loại rủ ro, khủng hoảng tài chính 2008

So sánh hợp đồng giao sau và hợp đồng quyền chọn

     Những nhà đầu tư dựa vào giá giao sau để vào ngày hôm nay khóa một giá trong tương lai. Hợp đồng giao sau là nghĩa vụ: ký hợp đồng một giá ngày hôm nay cho một điểm trong tương lai bất kể điểu gì xảy ra ngày mai có thể mang lại những kết quả cực hoặc tích cực cho người phòng ngừa rủi ro.

     Hợp đồng quyển chọn là một hợp đổng cho phép người mua có thể mua hoặc bán một tài sản với một giá định ra hôm nay, trong một phạm vi nhất định. Người bán có đoản vị với hợp đồng quyền chọn. Nhà đầu tư dùng hợp đổng quyền chọn để đầu tư hoặc để bảo vệ khởi việc giảm giá. Hợp đồng quyền chọn cung cấp quyền lợi, thay vì nghĩa vụ, phải bán hay mua một giá định sẵn hôm nay được gọi là giá thực hiện. Quyển chọn mua là quyền mua một tài sản với giá thực hiện, cho phép nhà đầu tư có lãi khi giá tài sảntăngtrong khi mất đi chi phí của quyền chọn nêu giá cổ phiếu dưới mức giá thực hiện. Quyền chọn bán là quyền bán một tài sản ở giá định trước, bảo vệ các nhà đầu tư trong trường hợp giá giảm dưới giá thực hiện.


So sánh hợp đồng giao sau và hợp đồng quyền chọn



Hợp đồng quyền chọn

     Hợp đồng quyền chọn là quyền lợi, không phải là nghĩa vụ như hợp đồng giao sau, để mua hoặc bán một tài sản cơ sở ở một giá định trước. Quyền chọn mua là quyền lợi mua và quyền chọn bán là quyền lợi bán tài sản cơ sở. Giá tài sản có thể được mua hoặc bán được gọi là giá thực hiện. Hợp đồng quyền chọn có hạn thanh toán. Một số hợp đồng quyền chọn có thể được thực hiện (người nắm giữ hợp đồng quyền chọn sử dụng quyềnlợi) chỉ vào hạn thanh toán, và một số khác có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào trước hạn thanh toán. Có các loại hợp đồng quyền chọn đối với nhiều tài sản cơ sởhoặc thông số thị trường khác nhau: cổ phiếu, lãi suất, tỷ giá hối đoái… Loại hợp đồng quyền chọn đầu tiên là của châu Âu và loại thứ hai là của Mỹ. Chi phí của hợp đồng quyền chọn được gọi là tiền phí được trả bởi người mua hợp đồng quyền chọn, thường là trả trực tiếp khi làm hợp đồng.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: các loại rủ ro, rủi ro lãi suất

Cách phòng ngừa rủi ro và lợi ích của hợp đồng giao sau

Ngừa rủi ro và đu cơ với hợp đồng giao sau

     Chiến lược phòng ngừa rủi ro có thể áp dụng với một người sử hữu cổ phiếu. Người sở hữu e ngại giá cổ phiếu giảm. Họ có thể phòng ngừa rủi ro đó bằng cách bán không một hợp đồng giao sau. Làm điều đó có nghĩa là họ có nghĩa vụ phải bán cổ phiếu ở giá giao sau vào ngày định trước. Miễn là giá cố phiếu giảm xuống dưới 110 thì việc phòng ngừa rủi ro đã thành công. Dĩ nhiên, nếu giá tăng cao hơn giá giao sau, ví dụ 120, người sở hữu cổ phiếu sẽ phải bán với giá 110 thay vì 120 và mất đi 120-110, tức là sự chênh lệnh dương giữa giá giao ngay trong tương lai (ẩn sổ) và giá trả sau.


Cách phòng ngừa rủi ro và lợi ích của hợp đồng giao sau



     Hợp đồng giao sau như vậy cũng có thể dùng để đánh cược là giá giao ngay trong tương lai sẽ cao hơn giá giao sau (vẫn là dương). Hãy xem xét một người không sởhữu chứng khoán ngày hôm nay. Một nhà đầu cơ sẵn sàng đánh cược giá giao ngay trong tương lai sẽ thấp hơn giá giao sau trong hợp đồng giao sau, ví dụ 80. Nhà đầu cơ sẽ mua cổ phiếu với giá 80 và bán với giá 110, hưởng lãi 30. Người bán kỳ hạn sẽ phải bán tài sản ngày mai, bất kế giá là bao nhiêu, bởi vì anh ta đã ký hợp đồng và có nghĩa vụ làm như vậy. Nhà đầu cơ gặp nguy cơ có thể thua lỗ nêu giá cổ phiếu tăng trên 110, ví dụ 120. Khi đó, người này sẽ mua cổ phiếu với giá 120 và bắt buộc phải bán với giá 110, bị lô 10. Chú ý rằng đầu cơ như vậy không bao gồm phí tổn tiền mặt khi ký hợp đổng. Sự khác biệt của người phòng ngừa rủi ro và nhà đầu cơ là người phòng ngừa rủi ro nắm giữ cổ phiêu còn nhà đầu cơ thì không.

Lợi ích một hợp đồng giao sau

     Lợi ích một hợp đồng giao sau là một đường ngang vào khi đáo hạn, ví dụ 110 khi đường giá giao ngay là đường chéo thứ nhất và trục ngang biểu thị giá giao ngay chưa biết trong tương lai. Giá trị hòa vốn quyết định người bán kỳ hạn thắng hay thua là 110. 



Popular Posts