domain, domain name, premium domain name for sales

Wednesday, July 1, 2015

Giá chuyển khoản kinh tế với các nguồn tiền

      Với các khoản ký gửi, nguyên tắc như trên vẫn đúng. Nó có nghĩa là phải xác định tài sản ‘phản chiếu’ sao chép thời gian biểu kỳ hạn của tiền ký gửi. Giá chuyển khoản phản ánh lãi suất thị trường của những cơ hội đầu tư khác ngoài cho vay.

    Lãi suất của chúng là “chi phí cơ hội” của tiền ký gửi. Chúng có thể làm giá chuyển khoản vì chúng đại diện cho thu nhập ngân hàng sẽ mất nếu đầu tư thay vì cho vay. Tiền ký gửi ngắn hạn sẽ thu được lãi suất thị trường ngắn hạn và tiền ký gửi chủ chốt dài hạn thu được lãi suất dài hạn.

 các nguồn tiền


       Dựa trên nguyên tắc này, giá chuyển khoản cho tiền ký gửi phụ thuộc vào ngân hàng mô phỏng hổ sơ thời gian của tiền ký gửi ra sao. Sử dụng lãi suất ngắn hạn phù họp với phần bất ổn của tiền ký gửi. Sử dụng lãi suất dài hạn áp dụng với phần biên động của tiền ký gửi. Sử dụng lãi suất dài hạn áp dụng cho phần tiền ký gửi chủ chốt. Cả hai phần đều có thế được xác định từ những mô hình chuỗi thời gian.

       Những giải pháp phức tạp hơn cũng có thể dùng làm tham chiếu. Chi phí cơ hội của tiền ký gửi dư thừa trơ thành lãi suất trung bình của những khoản đầu tư đó. Đầu tư phụ thuộc vào giả thuyết về tiền ký gửi trả dần. Nếu trả dần trong 10 năm, có mười lần đầu tư từ 1 tới 10 năm. Chính sách “bậc thang” này bình quân chuỗi thời gian của câu trúc kỳ hạn hàng năm của lãi suất khi các khoản đầu tư được gia hạn (xem chương 22 về quản lý tính thanh khoản).


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/07/chi-phi-cua-khoan-no-phan-chieu.html


Chi phí rủi ro tín dụng và lệ phí rủi ro

       Chi phí rủi ro bao gồm hai phần: thua lỗ thống kê hay thua lỗ trung bình do vỡ nợ (“thua lỗ dự đoán”) và chi phí những khoản lỗ lớn hơn trung bình. Thua lỗ thống kế là thua lỗ trung bình do vỡ nợ, tính theo phần trăm của khoản vay. Thua lỗ dự đoán tùy vào rủi ro tín dụng của người đi vay. Nó bằng với tỳ lệ thua lỗ DP X EAD.

      Chi phí các khoản lỗ vượt thua lỗ trung bình được tính bằng vốn, theo luật (Basel 2) hoặc vốn kinh tế dựa trên rủi ro dựa trên mô hình. Cả hai con số đều có thể làm tham chiếu. Chi phí vốn (cổ phần) là thu nhập trên vốn (ROC) mục tiêu hay thu nhập trên cổ phần mục tiêu (ROE). Nêu khoản vay không có rủi ro, sẽ không có chi phí vốn và cả thua lỗ thống kê từ vỡ nợ và thua lỗ vượt trung bình sẽ bằng 0. Chi phí rủi ro sẽ bằng 0.

      Nếu có rủi ro tín dụng, ta sẽ cần vốn bổ sung cho thua lỗ dự đoán. Chi phí vốn phần trăm phân phối cho giao dịch là chi phí cổ phần cho ngân hàng, k. Cấp vốn kết hợp nợ và vốn. Chi phí vốn rủi ro tín dụng là chi phí để thay thế vốn K cho lượng nợ D, như trong hình 29.3. Tất cả các chi phí hay mark-up cho chi phí rủi ro sẽ được biểu diễn là phần trăm của tài sản vì chúng ta tìm lãi suất mục tiêu. Hơn nữa, vì lãi suất đó là trước thuế, tất cà các chi phí nên là trước thuế bao gồm chi phí vốn cổ phần. Giả định chi phí vốn là 25% trước thuế và chi phí khoản nọ trước thuế là 7%.

Chi phí cấp vốn hay giá chuyển khoản là i = 7%. Chi phí bổ sung thay thế vốn bằng nợ là: K(k -i) – K x (25%-7%)

Chi phí bổ sung này được gọi là phí rủi ro do rủi ro tín dụng. Nếu vốn yêu cầu theo luật là 4% của khoản vay 1000 (tỷ lệ Cooke) hay 40 thì lệ phí rủi ro là: 40 X (25%-7%)=7,2


Chi phí rủi ro


      Để đi từ thu nhập trên vốn yêu cầu tới biên mục tiêu của khoản vay, ta tìm mark-up yêu cầu theo tỷ lệ phần trăm khoản vay trên chi phí bao gồm tất cả. Phần trăm này là tỷ số của phí rủi ro với khoản vay. Tỷ số sử dụng tỷ lệ vốn với vay, là cố định (4% với tỷ số Cooke):

(k-i)(K/vay) theo % khoản vay = 4%x (25% – 7%) = 0,72%

Lệ phí vốn, (k-i)K/A tỷ lệ thuận với vốn và lượng dư của chi phí vốn so với nợ. Lệ phí rủi ro này cũng phụ thuộc vào mục tiêu thu nhập trên vốn.

    Chú ý trong phép tính này, ta bỏ qua chi tiết vốn nên được tái đẩu tư không rủi ro. Nếu không, nếu vốn cấp tiền cho các khoản vay hay tài sản rủi ro, sẽ chịu rủi ro tín dụng bổ sung, đòi hỏi vốn bổ sung. Điều chinh này cho tái đầu tư vốn ớ lãi suất không rủi ro được trình bày đầy đủ trong chương 55 về hoạt động điều chỉnh theo rủi ro. Nó già định khoản vay hoàn toàn được cấp vốn từ nợ và vốn có thu nhập bên cạnh thu nhập từ khoản vay ở lãi suất không rủi ro.

    Bắt đâu từ giá chuyển khoản thuần túy, chi phí khoản nợ sao chép khoản vay ta cộng thêm chi phí hoạt động. Sau đó ta cộng thêm chi phí rủi ro với hai thành phần: thua lỗ dự đoán và lệ phí rủi ro vì sử dụng vốn. Cuối cùng, ta có thể cộng những động cơ thương mại, âm hoặc dương, để có giá cuối cùng. Giá cuối cùng này không phải là giá dựa trên rủi ro là chi phí bao gồm tất cả của vốn cộng với chi phí rủi ro, trừ khi động cơ thương mại bằng 0.

     Phép tính này từ dưới lên, tính tổng tất cả các khoản phần trăm, để tìm ra lãi suất khách hàng mục tiêu và chênh lệch mục tiêu. Chênh lệch mục tiêu tính theo phần trăm là chênh lệch giữa lãi suất mục tiêu và giá chuyên khoản hay 8,72% – 7% = 1,72%. Từ ví dụ trên, đễ dàng tính từ trên xuống bắt đầu từ doanh thu lãi và đảm bảo ROC là 25% trước thuế. Với một khoản vay 1000, cơ sở vốn là 40, và theo những giả định trên, khoản nợ là 1000 – 40 = 960, lãi suất áp dụng vào khoản nợ đó. Những khoản khác sẽ được tính bằng cách áp dụng những phần trăm trên vào giá trị khoản vay 1000. Tính giá trị của tất cả các khoản dẫn tới thu nhập trước thuế là 10, giá trị ứng với 25% thu nhập trên vốn 40.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/07/gia-chuyen-khoan-kinh-te-voi-cac-nguon.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:dòng tiền, tính thanh khoản

Chuyển rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất tới ALM thông qua hệ thốngFTP

Nguyên tắc sao chép một khoản nợ ứng với khoản vay và sao chép đầu tư với nguồn tiền thích hợp với nguyên lý phòng hộ hoàn toàn. Với vay, nó đặt ra chi phí vốn bằng chi phí khoản nợ làm triệt tiêu rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Với tiền ký gửi, quá trình sao chép chỉ mang tính xấp xỉ nhưng cùng tuân theo một nguyên tắc. Nhìn vào từng khoản vay riêng lẻ; những khoản nợ “phản chiêu” đó sẽ xóa bỏ cả rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Do đó, giá chuyển khoản chuyển giao rủi ro tới ALM, loại bỏ những rủi ro đó khỏi thu nhập lãi thực thương mại. Tuy nhiên, để đảm bảo cho quá trình chuyển giao rủi ro này đòi hỏi một thành tố khác ngoài hệ thống FTP.

Ví dụ, nêu một tài sản lãi suất cố định tạo ra 11% so với giá chuyển khoản 9%, biên là 2%. Tính toán lại biên của tài sản đó ở một lãi suất mới vào kỳ sau sẽ tạo ra một sự thay đổi. Đặt lại giá chuyển khoản sau khi phát hành nợ thành 10%, vì lãi suất tăng 1%, sẽ làm cho biên giảm 1%. NII thương mại sẽ lại gặp rủi ro.

rủi ro


Để loại bỏ rủi ro này, giá chuyển giao không thể được phép thay đổi sau khi đã được ấn định cho một giao dịch. Giá chuyển khoản ấn định cho một giao dịch trong những kỳ liên tiếp phải là giá chuyển khoản lịch sử, bắt đầu tư ngày khoản vay được ký hợp đồng. Điều đó sẽ cố định chênh lệch thương mại trong thời gian tồn tại của giao dịch. Chênh lệch tính theo giá chuyển khoản thay đổi sẽ chỉ là chênh lệch biểu kiên, không thể miễn dịch với rủi ro lãi suất vì chúng thay đổi theo lãi suất. Tuy nhiên, sử dụng những giá lịch sử vậy với mỗi giao dịch sẽ tạo ra áp lực cho hệ thống thông tin.

Bảng 29.1 cho thấy hồ sơ thời gian của chênh lệch bên ngoài, tính theo lãi suất thị trường và chênh lệch miễn dịch với lãi suất tính theo giá chuyển khoản lịch sử định giá vẫn phù hợp với biên mục tiêu 2% trên giá chuyển khoản. Chỉ có biên của giá  bảo đảm là cố định với thời gian. Điều này khiến cho hệ thống giá chuyển khoản toàn diện và nhất quán.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/07/chi-phi-rui-ro-tin-dung-va-le-phi-rui-ro.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:dong tien, thanh khoản

Định giá cho vay và chi phí

Định giá cho vay

Giá chuyển khoản thuần túy là chi phí cấp vốn cho một khoản vay. Những thành phần khác của định giá bao gồm:


  • Tất cả chi phí hoạt động được biểu diễn bằng % tổng các khoản vay

  • Chi phí rủi ro tín dụng khi cho vay

  • Cộng một mark-up (cho vay) và mark-down (tiền ký gửi) để phù hợp với lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng.



Lợi nhuận mục tiêu thường được định nghĩa là thu nhập mục tiêu trên vốn (“ROC”) hay thu nhập trên cổ phần (“ROE”). Định giá dựa trên rủi ro đòi hỏi chuyển từ ROC mục tiêu tới chênh lệch thương mại mục tiêu (lãi suất khách hàng – giá chuyển khoản) và lãi suất khách hàng mục tiêu.


Định giá cho vay


Chi phí bao gồm tất cả của vốn của nợ nhỏ                              

Tiêu chuẩn kinh tế học thuần túy là chi phí kinh tế danh nghĩa của vốn, miêu tả ở trên là chi phí vốn phản chiếu khoản vay. Ở đây ta giả định chi phí vốn là 7%.

Chi phí cấp vốn “bao gồm tất cả” của khoản vay cộng các chi phí hoạt động. Ở đây ta dùng chi phí bổ sung 0,5%, chi phí vốn “bao gồm tất cả” là 7,5%. Những mark-up và mark-down khác có thể cộng thêm vào chi phí “bao gồm tất cả” để tính ra giá cho khách hàng. Bỏ qua các khoản thương mại, chi phí bao gồm tất cả tính tổng chi phí vốn và chi phí hoạt động. Lãi suất cho khách hàng tối thiểu để trả những chi phí này là 7,5%. Chúng ta tính các chi phí theo phần trăm của khoản vay.

Chú ý doanh thu từ người đi vay bao gồm lãi suất cộng với những phí trả một lần với các phí trả định kỳ. Những phí trả một lần bóp méo doanh thu theo thời gian. Giải pháp chung là sử dụng doanh thu “bao gồm tất cả” hàng năm, tính trung bình tất cả các doanh thu, cả phí một lẩn và nhiều lần, trong suốt thời gian tồn tại của giao dịch. Tương tự “chênh lệch bao gồm tất cả” là chênh lệch hàng năm cao hơn chi phí khoản nợ tính bằng bình quân một năm trong thời gian tồn tại của giao dịch. Ở phần sau, lãi suất tính cho khách hàng là một lãi suất bao gồm tất cả tức là bao gồm các khoản phí.

Tuy nhiên sử dụng chi phí hoạt động cộng với chi phí vốn sẽ không thể trả được chi phí rủi ro tín dụng, tuy vào người đi vay và giao dịch. Vì định giá cho khách hàng là trước thuế, ta sẽ dùng chi phí vốn trước thuế. Lấy k% = 25% là ROC mục tiêu trước thuế ta cần tìm biên bổ sung để bù cho ROC mục tiêu này.



 Đọc thêm tại:

Giao dịch so với doanh thu khách hàng và định giá

      Định giá dựa trên rủi ro có thể không phù hợp với định giá mục tiêu ở mức độ giao dịch riêng lẻ vì sự cạnh tranh hay chênh lệch thị trường không đủ cao để định giá tất cả các chi phí cho một tập đoàn lớn tiếp cận với thị trường trực tiếp. Những chênh lệch đó gọi là “định giá sai” và không thể tránh được.

     Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là doanh thu khách hàng tổng hợp không thể đáp ứng lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng. Các ngân hàng đưa ra những sản phẩm và dịch vụ và nhận được chênh lệch lãi suất và lệ phí. Doanh thu khách hàng nói chung là một thước đo hợp lý hơn để tính khả năng lợi nhuận, và so sánh nó với lợi nhuận mục tiêu, vì nó nhóm tất cả dạng doanh thu từ các giao dịch, cộng với dịch vụ từ quan hệ khách hàng. Khách hàng sẽ giúp mang lại lợi nhuận hơn là những giao dịch đơn lẻ. Đây là lý do nên soạn những báo cáo thu nhập kinh tế ớ cấp độ khách hàng.
doanh thu khách hàng

Giá chuyển khoản thương mại và kinh tế

     Sử dụng hai tập hợp giá nội bộ là điều hợp lý. Một nhóm giá chuyển khoản liên quan tới tiêu chuẩn kinh tế. Ví dụ như lãi suất thị trường. Nhóm thứ hai dùng để làm những dấu hiệu thương mại. Bất kỳ sự chênh lệch nào giữa hai giá là chi phí chính sách thương mại. Những chênh lệch đó là những khoản phạt (mark-up) hay khoản hỗ trợ (mark-down) được quyất định bởi phòng thương mại. Chú ý nêu ta biết giá chuyển khoản kinh tế, bất kỳ chênh lệch nào do động cơ hay hình phạt thương mại cũng có thể được tách biệt. Tích lũy những chênh lệch đó nhân lên với lượng tiền cho vay hay thu nhập tạo ra đóng góp thực, âm hoặc dương, do những động cơ và hình phạt thương mại đó. Hệ thống này thống nhất những chức năng khác nhau của giá chuyển khoản và làm rõ chi phí của việc thực thi những chính sách thương mại không phù hợp với tham chiếu kinh tế.



Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/07/inh-gia-cho-vay-va-chi-phi.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:tài sản tài chính, thanh khoản

Tuesday, June 30, 2015

Chênh lệch thương mại và chênh lệch kỳ hạn

       Giá chuyển khoản là lãi suất tham chiếu nội bộ dùng để chuyển giao vốn nội bộ và phân bố thu nhập. Chúng cũng dùng để đặt ra những tiêu chuẩn định giá. FTP nên đưa ra những tiêu chuẩn kinh tế cho chi phí cấp vốn thông qua markup và markdown (giá bổ sung lên/xuống) để đạt được tính lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng. Vì các ngân hàng không muôn chênh lệch thương mại tăng hoặc giảm với lãi suất, hệ thống FTP phải chuyển giao rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản cho đơn vị trung ương ALM, chịu trách nhiệm quản lý rủi ro.

        Phần 29.1 sẽ cho thấy giá chuyển giao đúng phải dựa hên thị trường để tránh ac-bit nội bộ của các đơn vị kinh doanh và ac-bit bên ngoài bởi người đi vay. Có sự khác biệt giữa “giá chuyên khoản thuần túy” có mục đích duy nhất là chuyển tiền giữa các đơn vị với chi phí vốn “bao gồm tất cả”, bao gồm chi phí hoạt động cộng với markup cho chi phí rủi ro, có mục đích xác lập giá cho khách hàng dựa trên rủi ro. Phần 29.2 định ra những tiêu chuẩn kinh tế cho giá chuyển giao cho các hoạt động cho vay. Phần 29.3 nói về vấn đề đó với các đơn vị thu nhận tiền. Phần 29.4 làm rõ các điều kiện đảm bảo chuyển giao hiệu quà rủi ro lãi suất cho đơn vị ALM. Phần 29.5 nói về định giá dựa trên rủi ro với cho vay.

Chênh lệch thương mại


CHÊNH LỆCH THƯƠNG MẠI VÀ CHÊNH LỆCH KỲ HẠN

        Nguyên tắc cơ bản để xác định những giá chuyển giao “kinh tê”’ là liên hệ với giá thị trường vì cơ hội ac-bit giữa lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường nảy sinh khi chênh lệch tổn tại. Các tiêu chuẩn kinh tế xuất phát từ giá thị trường. Mark-up hay mark-down so với các tiêu chuẩn sẽ phục vụ cho việc định giá trong tương quan với tính lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng. Trong phần này và những phần sau, chúng ta bỏ qua mark-up và mark-down thương mại và đoạn cuối cùng trong chương này sẽ thảo luận có thể làm gì với những mark-up và mark-down “thương mại thuần túy” đó. Chúng độc lập với mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.

       Chênh lệch giữa giá khách hàng của ngân hàng với lãi suất thị trường sẽ tạo ra ac-bit của khách hàng và các đơn vị kinh doanh. Để đảm bảo ngân hàng có biên là số dương bất kể ở lãi suất nào, cần phải liên hệ giá chuyển khoản với kỳ hạn vì câu trúc kỳ hạn của lãi suất thông thường không phẳng. Trường hợp giao dịch trả một lần là dễ phân tích nhất. Giá khoản vay trả một lẩn nên cao hơn lãi suất thị trường của cùng kỳ hạn đó. Lãi suất tiền ký gửi kỳ hạn nên thấp hơn lãi suất thị trường của cùng kỳ hạn. Lãi suất tiền ký gửi yêu cầu nên thấp hơn lãi suất ngắn hạn. Khi cho vay cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng có thể mượn tiền từ thị trường và có chênh lệch dương bất kể kỳ hạn là gì. Khi thu nhận nguồn tiền dưới lãi suất thị trường, ngân hàng có thể đầu tư chúng vào thị trường và có lãi. Hình 29.1 mình họa cho kế hạch định giá đơn giản này, áp dụng cho mọi khoản vay trả một lần và tiền ký gửi.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/chia-nho-bien-thanh-nhung-ong-gop-cua.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:tài sản tài chính, thanh khoản

Những vấn đề cần xử lý của giá chuyển khoản

     Nếu các đơn vị kinh doanh mua nguồn tiền ở giá thấp hơn thị trường, họ có thể làm giảm giá cho vay với khách hàng hoặc các đơn vị mua bán có thể giữ những danh mục đầu tư của những tài sản ở giá thấp hơn thị trường.

    Nếu ngân quỹ hay ALM đánh phí các đơn vị thương mại cao hơn lãi suất thị trường, nó sẽ khuyên khích việc đi vay từ thị trường và tạo ra những chướng ngại cho phát triển. Với danh mục đầu tư ngân hàng, vấn đề để xác định tham chiêu kinh tế là tìm ra chính xác chi phí cho vay và doanh thu từ thu thập tiền ký gửi. Với các hoạt động thị trường, vân đề là sử dụng một giá vốn phù hợp với thị trường để tránh ac-bít nội bộ của các đơn vị kinh doanh.

giá chuyển khoản


Giá chuyển khoản phải xử lý hai vấn đề:
• Chi phí chuyên tiền từ những đơn vị dư thừa sang những đơn vị thiêu hụt vốn nền là bao nhiêu
• Với danh mục đầu tư cho vay, chi phí tiêu chuẩn để cấp là gì để định giá?

       Trong trường hợp đầu tiên, giá chuyển khoản nên trung hòa, không phạt hay trợ cấp các đơn vị kinh doanh. Giá chuyển khoản kinh tế dùng để chuyển tiền và phân bố thu nhập. Nó cũng dùng để tìm ra việc định giá sai, là chênh lệch giữa giá thực và giá mục tiêu dựa trên rủi ro, để báo cáo và sửa sai.

      Trong thực tế có một vài quan niệm định giá, kết hợp những tiêu chí kinh tế và thương mại. Có thể phân biệt chúng trước khi gộp lại trong một khung thống nhất:

• Định giá dựa trên rủi ro là tiêu chuẩn và thuần túy mang tính kinh tế. Nó đòi hỏi hai thành phần cơ bản: chi phí vốn và mark-up (giá bổ sung). Mark-up với rủi ro tín dụng nên phân biệt lãi suất dành cho người đi vay. Nó dựa trên hê thông phân phối rủi ro tín dụng, phân bố chi phí vốn cho mỗi giao dịch, dựa trên những quy định và mô hình kinh tế về vốn kinh tế tín dụng. Chúng sẽ coi như sự phân phối vốn đó là có sẵn và chi tập trung vào chi phí kinh tế của vốn.

• Định giá thương mại nói tới mark-up và mark-down so với tiêu chuẩn kinh tế đơn thuần vì các mục đích chính sách kinh doanh, tạo ra động lực và hình phạt đế quảng bá một số sản phẩm. Những mark-up và mark-down đó hoàn toàn bị chi phối bởi kinh doanh thay vì mục tiêu lợi nhuận.

      Giá chuyển giao dùng để làm cơ sở cho trao đổi vốn nội bộ và xác định chi phí vốn “bao gồm tất cả”. Chi phí đó nên bao gồm chi phí hoạt động đế giá trị đóng góp đủ cao để hấp thụ chi phí hoạt động. Các giá dựa trên rủi ro cũng phải được cộng chi phí rủi ro khi cho vay. Để phân biệt chi phí bao gồm tất cả của vốn và giá chuyển khoản dùng để trao đổi tiền giữa các đơn vị, chúng ta gọi khái niệm thứ hai là “giá chuyển khoản thuần túy”. Chi phí vốn bao gồm tất cả dùng cho mục đích định giá, không phải để trao đổi vốn nội bộ.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/07/chenh-lech-thuong-mai-va-chenh-lech-ky.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:phương pháp định giá, thanh khoan

Popular Posts