domain, domain name, premium domain name for sales

Friday, June 12, 2015

Những tài sản có sẵn để bán

      Tất cả những tài sản tài chính không được phân loại trong bất kỳ hạng mục nào khác được gọi là “có sẵn để bán”. Hạng mục này bao gồm mọi cổ phiếu không nằm trong hạng mục “ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ”. Một tổ chức có thể  định mọi tài sản trừ tài sản để trao đổi vào hạng mục này.

    Những tài sản này là những cổ phiếu thu nhập cố định không được phân loại là “giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ” và “nắm giữ tới đáo hạn”. Tài sản bao gồm trong hạng mục này ban đầu được ghi chép ở giá trị công bằng cộng với chi phí giao dịch. Vào ngày trên bảng cân đối, chúng được đinh giá lại thành giá trị công bằng với những thay đổi trong giá trị công bằng (trừ tiền lãi tích lũy) trong một dòng riêng biệt trong cổ phần của cổ đông, “những thua lỗ và lợi nhuận trì hoãn”.

      Nói cách khác, lợi nhuận và thua lỗ của những tài sản này sẽ xuất hiện trực tiếp trong vốn nhưng không xuất hiện trong kết quả kinh doanh sau thuếbởi vì chúng chưa được thực hiện. Khi công nhận một thua lỗ giảm sút, những lợi nhuận và thua lỗ chưa thực hiện này được chuyển từ cổ phần của cổ đông sang tài khoản lợi nhuận và thua lỗ, dưới đề mục “lợi nhuận và thua lỗ thực củatài sản tài chính có sẵn để bán”.

 tài sản


     Thu nhập sử dụng phương pháp ‘lãi thực’ từ cổ phiếu thu nhập cố định có sẵn để bán được ghi chép trong mục “thu nhập lãi” trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ. Thu nhập cổ tức từ những cổ phiêu thu nhập thay đổi được ghi trong phần “lợi nhuận và thua lỗ thực của tài sản tài chính có sẵn để bán” khi quyền lợi nhận thanh toán được xác lập.

Các quy tắc đánh giá

    Những quy tắc đánh giá tài sản và nợ tài chính dựa trên sự phân loại. Những tài sản và nợ giao dịch và tài sản ‘có sẵn để bán’ được tính ở “giá trị công bằng”, những khoản vay và khoản phải thu và những khoản đẩu tư giữ tói đáo hạn có “chi phí khâu hao”. Phương pháp dễ nhất để đánh giá giá trị công bằng là những giá niêm yết trên các thị trường hoạt động mạnh. Khi giá thị trường không có sẵn, cần dùng những kỹ thuật đánh giá khác sử dụng dữ liệu thị trường.

      Phương pháp đánh giá khác được gọi là “chi phí khấu hao”, được rút ra từ khoản tiền sẽ trả lại vào ngày đáo hạn. Các giá trị còn phụ thuộc vào những thua lỗ giảm sút khi có bằng chứng khách quan của sự thua lỗ do những sự kiện quá khứ. Mối liên hệ giữa phân loại, đánh giá và quy tắc sút giảm được tóm tắt ở bảng 21.4. Sự sụt giảm không quan trọng với một tài sản được trao đổi vì nó ẩn trong giá trị công bằng. Những thay đổi giátrị công bằng, ngoài sự sút giảm, sẽ được chuyển tói vốn hoặc kết quả kinh doanh sau thuế theo những quy tắc nói trên.




Chi phí khấu hao và Phương pháp xác định giá trị công bằng

       Với những tài sản định giá ở chi phí khâu hao, chi phí khâu hao là khoản sẽ phải hoàn lại vào ngày đáo hạn, thường là tiền gốc của mệnh giá, cộng hoặc trừ những lệ phí chưa trả hoặc chiết khâu và chi phí giao dịch, trừ đi những khoản thanh toán gốc và sút giảm.

      Lịch trình khấu hao sử dụng phương pháp lãi suất thực. Lãi suất thực là lợi nhuận-tới- đáo hạn, hay tỷ lệ chiết khâu khiến cho giá trị công cụ đúng bằng tất cả những khoản tiền kỳ vọng tương lai, bao gồm chiết khấu và lệ phí. Tỷ lệ này áp dụng cho lượng mang vào mỗi ngày báo cáo để xác suất thu nhập lãi cho tài sản và chi phí cho nợ. Lợi nhuận tới đáo hạn và dòng tiền không bao gồm thua lỗ tiềm năng của công cụ. Đây là lợi nhuận theo hợp đồng. Chi phí giao dịch bao gồm phí, hoa hồng và tiền thuế trả cho bên kia.

Chi phí khấu hao


Phương pháp xác định giá trị công bằng

     Những tài sản và nợ tài chính phân loại là giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ, và tài sản tài chính được phân loại là “có sẵn để bán” được tính toán ở giá trị công bằng, định nghĩa là lượng tiền tài sản có thể quy đổi giữa những bên đối tác hiểu biết, săn sàng trong giao dịch trực tiếp. Giá trị của công cụ tài chính thường là giá giao dịch.

     Giá trị công bằng được xác định:


  • Dựa trêncơ sở giá cả trích dẫn trên thị trường hoạt động

  • Sử dụng những kỹ thuật đánh giá bao gồm các phương pháp tính toán dựa trên nhũng lý thuyết tài chính, tông số từ giá của những công cụ trao đổi trên thị trường hoạt động và từ những ước lượng thông kê hoặc phương pháp định lượng khác

      Sự phân biệt giữa hai phương pháp đánh giá là liệu công cụ có được trao đổi trên thị trường hoạt động hay không. Thị trường được coi là hoạt động và do đó có tính thanh khoản cao khi có sự trao đổi liên tục trên thị trường, hoặc những công cụ trao đổi rất giống như công cụ đang được đánh giá. Có một hệ thống cấp bậc những kỹ thuật đánh giá trong ba hạng mục chính:


  • Hạng mục 1: giá cả quan sát trên thị trường hoạt động

  • Hạng mục 2: giá cả quan sát trên thị trường hoạt động của những công cụ có thể được sao chép bằng công cụ đang được đánh giá

  • Hạng mục 3: khi không có giá quan sát được, đánh giá mô hình được sử dụng với những mô hình được chấp nhận rộng rãi.

     Những bảng báo giá công khai là bằng chứng tốt nhất của giá trị công bằng. Thị trường hoạt động mạnh đảm bảo những giá niêm yết luôn có sẵn từ một giao dịch. Những giá đó nên đại diện những giao dịch thực trực tiếp. Trong sự kiện có nhiều nơi giao địch, giá hời nhất sẽ được sử dụng. Hội Đồng Tiêu Chuẩn Kế Toán Quốc Tế định nghĩa giá trị công bằng là giá có thể được nhận khi bán tài sản trong một giao dịch trật tự giữa những người tham gia thị trường.

Những thị trường không hoạt động không thỏa mãn những điều kiện trên, không có tính thanh khoản và không có giá cả đáng tin cậy. Chúng tồn tại với những công cụ phức tạp hoặc khi tính thanh khoản giảm sút.



Từ khóa tìm kiếm nhiều:dòng tiền, tính thanh khoản

Công cụ giao dịch trong thị trường hoạt động

Công cụ giao dịch trong thị trường hoạt động mạnh

      Nếu báo giá có sẵn trong thị trường hoạt động mạnh, điều đó sẽ giúp cho việc xác định giá trị công bằng. Phương pháp này được dùng cho những cổ phiếu được báo giá và phái sinh trao đổi trên những thị trường có tổ chức. Phái sinh, hoán đổi, thỏa thuận lãi suất giao sau, sàn, trần và quyền chọn được trao đổi trên những thị trường hoạt động mạnh.

    Đánh giá được thực hiện bằng những mô hình được chấp thuận rộng rãi (dòng tiền chiết chấu, mô hình Black-Scholes, kỹ thuật phép nội suy) dựa trên những giá thị trường được báo giá cho những công cụ tương tự hoặc công cụ cơ sở. Sự đánh giá rút ra từ những mỏhình này được điều chỉnh cho tính thanh khoản và rủi ro tín dụng, bắt đầu từ sự đánh giá rút ra từ giá thị trường trung bình, điều chỉnh giá được sử dụng để định giá vị thế thực của mỗi tài sản tài chính ở giá mời bán trong trường hợp đoản vị, và giá mời mua trong trường vị. Giá mời bán là giá một người sẽ mua công cụ, và giá mời mua là giá một người sẽ bán. Điều chỉnh rủi ro đốitác áp dụng với sự đánh giá rút ra từ mô hình để phản ánh chất lượng tín dụng của công cụ phái sinh.

giao dịch


      Các công cụ giao dịch trong thị trường hoạt động yếu

    Chúng ta sẽ xem xét hai trường hợp khi không có thị trường hoạt động mạnh. Nếu một công cụ có thể được sao chép bằng những công cụ đơn giản khác giao dịch trên thị trường hoạt động mạnh, giá sẽ được tính từ những công cụ đó. Nếu một công cụ không được giao dịch trên thị trường hoạt động và không thể được định giá gián tiếp bằng những giao dịch sao chép, việc đánh giá phải dựa vào mô hình.

      Các sản phẩm giao dịch trên thị trường không hoạt động được định giá sử dụng những mô hình nội bộ dựa trên những thông số không quan sát được hoặc chỉ quan sát được một phần. Một thị trường không quan sát được là một thông sốvới giá trị hình thành do những giả định hoặc sự tương quan, không dựa trên những giao dịch thị trường hiện tại hoặc dữ liệu thị trường quan sát được.

     Một số công cụ tài chính phức tạp, không có tính thanh khoản hoặc có kỳ hạn dài được định giá sử dụng những kỹ thuật nội bộ hoặc dựa trên những dữ liệu quan sát một phần trên thị trường hoạt động. Nếu thiếu những dữ liệu quan sát được, những công cụ này được tính bằng sự công nhận ban đầu để phản ánh giá giao dịch, coi như chỉ báo tốt nhất của giá trị công bằng. Đánh giá bằng những mô hình này được điều chỉnh cho phù hợp với rủi ro tính thanh khoản và rủi ro tín dụng.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/chi-phi-khau-hao-va-phuong-phap-xac-inh.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:dong tien, thanh khoản

Sự sút giảm của những tài sản tài chính.

       Lợi nhuận và thua lỗ “ngày thứ nhất” được định nghĩa là hiệu giữa giá giao dịch và giá tri công bằng, nên được thừa nhận vào thời điểm giao dịch xảy ra trong thị trường hoạt động mạnh.

      Biên lợi hình thành khi những công cụ tài sản phức tạp được giao dịch (lợi nhuận ngày thứ nhất) được trì hoãn và chuyền sang tài khoản lợi nhuận và thua lỗ trong khoảng thời gian những thông số đánh giá vẫn tiếp tục không quan sát được. Khi những thông số ban đầu không quan sát được trả thành quan sát được, hoặc khi đánh giá có thể được so sánh với những giao dịch tương tự gần đây trong thị trường hoạt động, phần không được công nhận của lợi nhuận ngày đẩu tiên được trở lại tài khoản lợi nhuận và thua lỗ.

tài sản tài chính.


 Sự sút giảm của những tài sản tài chính.

     Thua lỗ sút giảm được công nhận cho những khoản vay và tài sản tài chính giữ tới đáo hạn khỉ có bằng chứng khách quan sự giảm giá trị là kết quả của một sự kiện sau khi bắt đầu. Thua lỗ kỳ vọng không được coi là sút giảm, bằng chứng khách quan của sự sụt giảm bao gồm những khó khăn tài chính của người phát hành, xác suất vỡ nợ cao và vi phạm hợp đồng.

Nếu có bằng chứng khách quan là sự sụt giảm đã xảy ra và lượng mang của tài sản tài chính với chi phí khấu hao vượt quá lượng có thể hồi phục, tài sản đã bị ‘sút giảm’. Ở cấp độ riêng lẻ, lượng sút giảm là hiệu giữa lượng mang trước khi sụt giảm và giá trị hiện tại, chiết khấu ở lãi suất thực ban đầu của tài sản, của những thành phần (gốc, lãi, thế chấp…) được coi là có thể hồi phục. Lượng mang bị giảm xuống lượng có thể phục hồi trực tiếp hoặc thông qua một tài khoản trợ cấp. Lượng thua lỗ được bao gồm trong lợi nhuận và thua lỗ thực trong khoảng thời gian đó. Sự sút giảm xuất hiện trong báo cáo tài chính dưới danh mục “sụt giảm”, “dự phòng thua lỗ nợ” hoặc “chi phí rủi ro”.

      Sụt giảm của những tài sản tài chính “có sẵn để bán” (chủ yếu bao gồm cổ phiêu) được công nhận trên cơ sở riêng lẻ nếu có bằng chứng sụt giảm là kết quả của sự kiện sau khi mua. Nếu có bằng chứng khách quan về sự sụt giảm của tài sản tài chính có sẵn đểbán ở giá trị công bằng, thua lỗ tích lũy thực được chuyển từ cổ phần sang kết quả kinh doanh sau thuếmặc dù tài sản chưa được bán. Những thua lỗ sụt giảm được công nhận là một thành phần của thu nhập thực dưới danh mục “lợi nhuận và thua lỗ thực của tài sản tài chính có sẵn để bán”.



Đọc thêm tại:

Kế toán phòng hộ

     Trong trường hợp cổ phiếu có thu nhập thay đổi được báo giá trong thị trường hoạt động mạnh, sự sụt giảm đáng kể trong giá trích dẫn tụt xuống thấp han chi phí mua được tính là bằng chứng của sự sụt giảm. Sự sụt giảm tiếp theo trong giá trị công bằng tạo thành những thua lỗ sụt giảm, được công nhận trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ.

      Các khoản nợ sẽ được kiểm tra có sụt giảm hay không trên cơ sở riêng lẻ và trên cơ sở danh mục đầu tư. Sụt giảm riêng lẻ áp dụng khi có thể xác định tài sản ứng với sự sụt giảm. Sụt giảm tập thể của một tập hợp các tài sản ứng dụng với những tài sản có đặc tính rủi ro tín dụng tương tự nhau. Những tài sản không bị sụt giảm riêng lẻ được đánh giá trên cơ sở danh mục đầu tư những khoản nợ có tính chất giống nhau.

      Thay đổi trong thua lỗ sụt giảm được ghi chép trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ dưới mục “sụt giảm”.

lợi nhuận


 Kế toán phòng hộ

      Kế toán phòng hộ định nghĩa cơ sở thông thường để công nhận lợi nhuận và thua lỗ (hay doanh thu và chi phí) liên quan tới một công cụ được phòng hộ và một công cụ phòng hộ. Nó cho phép bù trừ lợi nhuận và thua lỗ của hai công cụ. Để áp dụng kế toán phòng hộ, những tiêu chí gắt gao phải được đáp ứng, bao gồm giây tờ chính thức và đạt tiêu chuẩn độ hiệu quả. Thử nghiệm độ hiệu quả dùng để chứng minh mối quan hộ chặt chẽ giữa công cụ phòng hộ và công cụ được phòng hộ.

       Các loại phòng hộ: Có ba loại phòng hộ

-         Phòng hộ giá trị công bằng

-         Phòng hộ dòng tiền

-         Phòng hộ một khoản đầu tư trong một hoạt động ở nước ngoài

       Phòng hộ giá trị công bằng áp dụng với những thay đổi trong giá trị công bằng. Thu nhập và thua lỗ của các công cụ được phòng hộ và công cụ phòng hộ được thừa ngay lập tức và bù trừ cho nhau, nếu phòng hộ hiệu quả. Theo phòng hộ giá trị công bằng, lợi nhuận và thua lỗ của ca hai công cụ được công nhận trong cùng một khoảng thời gian kế toán giống nhau.

     Trong mối quan hệ của phòng hộ giá trị công bằng, công cụ phái sinh được tái định giá ở giá trị công bằng trong bảng cân đối. Những thay đổi trong giá trị công bằng nằm trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ trong phần “lợi nhuận và thua lỗ thực của tài sản tài chính ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ”, đối xứng với sự tái định giá của công cụ được phòng hộ. Trong những trường hợp đặc biệt, phòng hộ vĩ mô hay phòng hộ ứng dụng với một danh mục đầu tư cũng được công nhận.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/06/su-sut-giam-cua-nhung-tai-san-tai-chinh.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:tài sản tài chính, thanh khoản

Thursday, June 11, 2015

Giới thiệu về báo cáo tài chính của các ngân hàng

      Những bản báo cáo tài chính của các ngân hàng tuân theo những nguyên tắc ca bản giếng như với doanh nghiệp, nhưng có những sự khác biệt lớn. Cả tài sản và nợ của ngân hàng là những hợp đổng tài chính, vốn của ngân hàng nhỏ hơn nhiều so với kích thước của bảng cân đối kế toán so sánh với những công ty phi tài chính. Những cam kết không có trong bảng cân đốicũng có lớn tương đương với bảng cân đối. Chúng tôi tổng quát câu trúc bảng cân đốivà báo cáo thu nhập trong phần đầu tiên.

     Chương này nói về những tiêu chuẩn kế toán mới, hay Các Tiêu Chuẩn Báo Gáo Tài Chính Quốc Tế (IFRS). Chúng có tầm quan trọng đặc biệt với các tổ chức tài chính vì với kế toán ‘giá trị công bằng’, chúng ảnh hưởng tói sự tăng giá hay sụt giá của danh mục đầu tư ngân hàng. Điều này làm thay đổi cơ sở vốn hoặc kết quả kinh doanh sau thuế trong báo cáo lợi nhuận và thua lỗ. Những quy định đánh giá có ảnh hưởng trực tiếp lên khả năng thanh toán của ngân hàng.

Báo Gáo Tài Chính Quốc Tế


      Phần trình bày về IFRS dựa trên báo cáo thường niên của các ngân hàng và đánh giá của các cố vấn về những nguyên tắc cơ bản. Bài tổng quát này về tiêu chuẩn kế toán mới bao gồm bốn phần: sự công nhận tài sản và nợ tài chính, các quy tắc đánh giá; những quy định sự suy yếu cho tài sản, và kế toán phòng hộ. Phần cuốiso sánh cách phân loại những quy định rủi ro và xử lý kế toán.

Các báo cáo tài chính ngân hàng

     Báo cáo tài chính ngân hàng rất khác với báo cáo tài chính doanh nghiệp tuy nguyên tắc giống nhau. Sự khác biệt liên quan tới bản chất tài sản và nợ và một số đặc điểm khác. Vốncủa ngân hàng khá nhỏ so với doanh nghiệp bởi vì các ngân hàng cóthể huy động vốn cho những hoạt động hiện thời mà không cần đi qua quy trình dài dòng cho những đơn vị phi tài chính. Những giao dịch có trong bảng cân đốikế toán bao gồm tất cả những giao dịch tạo ra dòng tiền ra cho tài sản và dòng tiền vào cho nợ.


Đọc thêm tại : http://timhieukienthucnganhang.blogspot.com/2015/04/tinh-thanh-khoan-la-gi-quan-ly-tinh-thanh-khoan.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều:tài sản tài chính, thanh khoản

Lợi ích của Bảng cân đối kế toán

      Bảng cân đối kế toán đưa một cái nhìn tức thời về những tài sản và nợ vào một ngày nhất định. Báo cáo thu nhập tóm tắt tất cả những doanh thu và chi phí đè xác định thu nhập của một giai đoạn. Theo cách nhìn đơn giản hóa, bảng cân đội bao gồm bốn cấp độ cơ bản, cộng với những khoản không có trong bảng cân đối, chia bảng cân đối theo chiều ngang (bảng 21.1):

- Các giao dịch ngân khố và ngân hàng
– Môi giới (cho vay và thu thập tiền ký gửi)
– Tài sản tài chính (danh mục đầu tư giao dịch) những tài sản và khoản nợ dài hạn: tài sản cố định, đầu tư vào công ty con, cổ phần và nợ dài hạn. 

      Trọng số của những thành phần chính tùy vào tổ chức, phụ thuộc vào kinh doanh chủ chốt của họ. Cổ phần thường thấp trong các bảng cân đốingân hàng. Cho vay và tiền ký gửi là khoản lớn trong ngân hàng thương mại và bán lẻ. Ngân hàng đầu tư, bao gồm cả tài chính chuyên dụng và giao dịch, thường cấp vốn cho các hoạt động thị trường. Ở các ngân hàng châu Âu, ngân hàng toàn diện cho phép các tổ chức ngân hàng hoạt động trong tất cả các nghiệp vụ, tương phản với sự phân chia giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại ở Mỹ.

ngân khố


       Đối với các ngân hàng, các khoản không có trong bảng cân đổi là lượng lớn những giao dịch khác thường được gọi là dự phòng. Chúng không gây ra dòng tiền ra hay dòng tiền vào, trừ chi phí và doanh thu liên quan tới những giao dịch đó được ghi chép trong béo cáo thu nhập. Với các giao dịch ngân hàng, dự phòng bao gồm những đảm bảo cho (thách hàng và bên thứ ba, hạn mức tín dụng cam kết chưa được khách hàng sử dụng hết và hạn mức tín dụng dự phòng. Đây là những cam kết hợp đổng, tùy khách hàng Có sử dụng hay không. Dự phòng bao gồm các đảm bảo, là cam kết nghĩa vụ của người mang nợ khi người đó vỡ nợ. Một ngân hàng có thể nhận và đưa ra những đảm bảo.

     “Dự phòng cho đi” tạo ra doanh thu. Đấy là những khoản phí tức thi hoặc định kỳ hay doanh thu tiền lời và chi phí tính bằng tỷ lệ của những số dư. Dòng tiền ra phụ thuộc vào điều gi xảy ra với bên đổi tác. Ví dụ, nêu người đi vay sử dụng hạn mức tín dụng, sẽ có thu nhập tiền bổ sung vào doanh thu.




Từ khóa tìm kiếm nhiều:phương pháp định giá, thanh khoan

Popular Posts